Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

Hoàng thành Thăng Long xưa và nay




Cột cờ Hà Nội nay.

Ngày 1/8, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Dự kiến, Tổng giám đốc UNESCO sẽ tới Hà Nội vào 1/10 để dự kỷ niệm Đại lễ nghìn năm và trao giấy chứng nhận cho Hoàng Thành Thăng Long. VnExpress.net giới thiệu những hình ảnh tư liệu về quần thể di tích này, nằm trong bộ sưu tập Ký ức Hà Nội xưa của hai bố con nhà giáo Đoàn Thịnh và kiến trúc sư Đoàn Bắc.

Các bức ảnh được chụp vào khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi Pháp vào xâm chiếm nước ta. Trải qua cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn cùng sự tàn phá của thực dân, Hoàng thành trở nên xơ xác, tiêu điều. Vào thời nhà Nguyễn, kinh đô được dời vào Phú Xuân, Huế, quần thể di tích Hoàng thành xưa được gọi là Thành Hà Nội.
Đoan Môn - cửa chính đi vào Hoàng thành Thăng Long xưa.

Đoan Môn còn lại của ngày nay.

Cửa Bắc Hoàng thành xưa.

Cửa Bắc ngày nay.

Bắc Môn xưa và nay đều vẫn còn nguyên hai vết đại bác do quân Pháp bắn vào thành Hà Nội ngày 25/4/1882.

Khung cảnh Hậu lâu - nơi ở của các cung tần mỹ nữ.

Một góc Hậu lâu còn lại đến nay.

Điện Kính thiên trong Hoàng thành.

Nền đất nơi từng tồn tại Điện Kính Thiên.

Một góc thềm Điện Kính Thiên.

Rồng đá trên thiềm Điện Kính Thiên ngày nay.

Cột cờ xưa.

Theo VnExpress.net

Các kỷ lục Việt Nam mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long




Cặp áo dài có tên “Ngàn năm hội tụ” do nhà thiết kế Lan Hương (Hà Nội) lên bản vẽ, dưới 100 đôi bàn tay thêu khéo léo của thợ thêu làng nghề Quất Động, theo kỹ thuật thêu gia truyền của cố nghệ nhân Triệu Văn Mão. Cặp áo gồm áo nam thêu hình 1.000 rồng, áo nữ thêu hình 1.000 phượng, mỗi tà áo sau dài 10m, ngang 0,83m, được làm từ 200m lụa tơ tằm Vạn Phúc. Cặp áo dài được công nhận kỷ lục vào đêm 16/9 với danh hiệu "Cặp áo dài thêu rồng phượng nhiều nhất".
Hoa hậu Mai Phương Thúy mặc kiểu áo dài có thân áo được làm từ lãnh Mỹ A, thêu 9 rồng uốn lượn tuợng trưng cho 9 nhánh đồng bằng sông Cửu Long. 9 tà áo còn lại, mỗi tà dài hơn 100m, được làm từ lụa truyền thống và hiện đại của 3 miền đất nước: Vạn Phúc (Hà Nội), lụa Đà Nẵng, Lâm Đồng, Tân Châu (An Giang), Phước Thịnh (TP.HCM). Tổng chiều dài các tà áo cộng lại 1000m, đúng số năm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Bộ áo này được phong danh hiệu "Chiếc áo dài nhiều tà nhất" vào tối 4/10 tại Trung tâm hội nghị White Palace, TP HCM.

Tác phẩm do anh Lê Minh Ngọc, người có gia đình gắn bó lâu đời với làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) thực hiện được trao danh hiệu "Lọ lộc bình bằng gốm Bát Tràng cao nhất". Lọ độc bình đã được làm trong 30 tháng và cuối năm 2009 hoàn thành bằng chất liệu cao lanh đất sét với nét màu cobalt truyền thống thể hiện họa tiết của cảnh chùa chiền, của cây tùng cổ thụ. Lọ cao 3,4m, đường kính thân lọ 0,98m, nặng 220kg.
Nếu lọ độc bình mang hoa văn họa tiết về cảnh chùa chiền, làng mạc, thì ở chiếc chóe men rạn, anh Lê Minh Ngọc lại khắc họa những tích chuyện thời xưa với hình ảnh vinh quy bái tổ của các sĩ tử. Tác phẩm này được tặng danh hiệu "Chiếc chóe men rạn lớn nhất". Chiếc chóe gồm hai bộ phận: thân và nắp chóe được các người thợ làng nghề làm theo dạng men rạn giả cổ. Kích thước của chiếc chóe cao 2,4m (từ đỉnh đến chân), đường kính 1,25m, nặng 200kg. Ngày 9/10, trong khuôn khổ chương trình Triển lãm “Nghề gốm Bát Tràng - cổ truyền và hiện đại”, lọc lộc bình và chóe men rạn chính thức được trao tặng kỷ lục Việt Nam.
Trong vòng 1 tháng bởi 60 nhân công đã thực hiện "Đèn kéo quân lớn nhất (phá kỷ lục Việt Nam)". Đèn cao 11m, đường kính đáy 9,6m, nặng 2,5 tấn, được Trung tâm Văn hóa thông tin thành phố Thanh Hóa thực hiện trong dịp trung thu 2010 và hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Thời gian thực hiện đèn kéo quân Chiếc đèn kéo quân này phá kỷ lục đèn kéo quân thực hiện năm 2008, cao 7,5m, đường kính đáy 9,6m).
Đây là Cây sanh có thế "Cửu long tranh châu" trồng chậu có bệ, rễ cỏ với chu vi lớn nhất. Nhiều năm trước, sau khi mua cây, ông Bùi Quang Thái (Hà Nội) đã trồng trong chiếc chậu (dài 4,8m, rộng 3m, cao 0,5m) và chăm sóc, uốn nắn theo nghệ thuật bonsai, cây cảnh cổ. Đặc biệt, bộ rễ của cây gây ấn tượng với mọi người không chỉ lớn mà còn lắc lỉu với những hòn đá như được ôm dưới thân cây. Tính về chu vi bộ rễ đo được 9,1m, dài 3,7m, ngang 2m và cao 1,9m. Chiều cao bộ rễ 0,55m. Đến nay (9/2010), cây có chiều cao 3,2m, tính cả chậu chiều cao lên đến 3,7m. Theo kết quả giám định của bộ môn Dược liệu trường Đại học Dược Hà Nội, xét theo mẫu vật lấy tại cành cây sanh này cho số tuổi khoảng 152 năm tuổi, như thế tuổi của cây còn phải hơn nữa.
Còn đây là Cây sanh có thế "Mộc thạch nghênh phong" trồng chậu lớn nhất. Cây sanh “Mộc thạch nghênh phong” của ông Thái cao 3m trồng trong một chiếc chậu có kích thước: dài 3m, rộng 2,2m, cao 0,5m. Nhưng chính bộ rễ ôm đá của cây mới thu hút cái nhìn của người xem, vì nó dài đến 2,15m, ngang 1m, cao 2,15m. Chu vi của cả bộ rễ ôm đá này lên đến 5,5m. Theo xác định của bộ môn Dược liệu, trường Đại học Dược Hà Nội, xét theo mẫu vật lấy tại cành nhánh của cây sanh này cho số tuổi khoảng 165 năm tuổi. Dự kiến hai cây sanh nói trên sẽ được công bố kỷ lục vào ngày 8/10 tại Festival cây cảnh toàn quốc ở Bảo tàng Hà Nội.
Kỷ lục Dàn trống đồng phục vụ đại hợp xướng "Nổi trống Lạc Hồng - Hào khí Thăng Long" nhiều nhất. Đây là 100 trống đồng được đúc bằng phương pháp thủ công truyền thống Đông Sơn, mô phỏng hoa văn 4 loại trống đồng tiêu biểu được phát hiện ở Việt Nam, bản gốc lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam: trống Ngọc Lũ (ký hiệu NL), trống Sông Đà (ký hiệu SĐ), trống Hoàng Hạ (ký hiệu HH), trống Quảng Xương (ký hiệu QX).
Mỗi trống có đường kính 60cm, cao 48cm, bằng chất liệu đồng đỏ nguyên chất. Thân trống khắc họa logo Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, hình ảnh Khuê Văn Các và 2 rồng thời Lý, được 40 các nghệ nhân của Chi hội Bảo tồn và phục hồi nghề truyền thống Đông Sơn và Trung tâm phục hồi trống đồng và bảo tồn văn hóa Việt (trực thuộc Liên chi hội Di sản văn hóa Lam Kinh) thực hiện. Đại hợp xướng “Nổi trống Lạc Hồng - Hào khí Thăng Long” diễn ra khoảng 10 phút vào tối 10/10 trong đại lễ và ngày 17/10, trong lễ bàn giao trống đồng cho các tỉnh tại Thanh Hóa, Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam sẽ trao tặng giấy xác lập kỷ lục nói trên.
Các đầu bếp đang trong quá trình thực hiện thử "Chiếc phở cuốn dài nhất từ trước đến nay".
Một bạn trẻ ngắm "cụ rùa" bằng chả mực lớn nhất Việt Nam.
Làng nghề tò he Xuân La đã thực hiện tác phẩm mô phỏng rồng thời Lý dài hơn 2m, nặng khoảng 100kg, trưng bày tại lễ hội Làng nghề - phố nghề Thăng Long Hà Nội.
Chào mừng Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) và đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Hội Doanh nhân trẻ TP HCM tổ chức trận đấu bóng đá dành cho đại diện các doanh nghiệp vào ngày 10/10 tại Sân vận động quân khu 7, TP HCM. Trận thi đấu diễn ra trong 540 phút, bắt đầu từ 10 giờ sáng đến khoảng 22 giờ, chia thành 12 hiệp đấu, mỗi hiệp 45 phút, với sự tham gia của 1.000 cầu thủ chia làm 108 đội hình thi đấu. Trận đấu áp dụng đúng luật thi đấu do FIFA ban hành. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam sẽ kiểm tra, giám sát và công bố kỷ lục "Trận đấu có số cầu thủ tham dự và tổng thời gian thi đấu nhiều nhất" khi trận cầu kết thúc.


Ảnh: Vietkings
(Vnexpress.net)

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2010

Linh sam Văn nhân




Linh sam – loài cây có tính đặc hữu của vùng núi Phú Yên – Ninh Thuận. Nhưng với những đặc tính quý như: Sức sống mãnh liệt, ưu nước, ưa nắng, chịu mưa và … chịu cả nắng hạn, hoa đẹp, có thể điều chỉnh ra hoa theo ý muốn, dễ ghép, tạo dáng…, cây linh sam được mệnh danh là loài cây vốn trời sinh ra là để… làm bonsai trên đất Việt.

Cây linh sam này có dang dấp rất ấn tượng: Cao lêu nghêu, mãnh mai mà vững chãi, lá trung hợp với kích thước ở tầm vừa của cây: đường kính thân gốc khoảng 4-5cm, cao 1,2 mét, tán cành có đường kính khoảng 80 cm. Đặc biệt là khả năng bùng hoa, vừa dày vừa duy trì phông độ rất lâu, đến vài tháng.


Kích thước:

- Cao 1, 2 mét.

- Thân gốc chu vi khoảng 18 cm, bằng cỡ cổ tay em bé.

- Tông cao, thanh thoát.

- Dáng thế độc đáo và hiếm có

- Đã ra hoa tím.






Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Ngắm những cây cảnh 'độc nhất vô nhị'

Những cây cảnh "đại khủng triệu đô" đã làm nên một triển lãm cây cảnh độc nhất vô nhị từ trước đến nay.


Lần đầu tiên trong lịch sử làng chơi cây cảnh Việt Nam, những cây cảnh “chỉ có trong huyền thoại” đã quần tụ tại Triển lãm cây cảnh chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Người xem mãn nhãn với cơ hội ngàn năm có một để mục sở thị những tuyệt tác “không bút nào tả xiết”.

Hàng ngàn cây cảnh nghệ thuật từ khắp các mọi miền đất nước đã có mặt trong Đại lễ ngàn năm. Ngày hôm nay, 06/10, mới là ngày BTC mở cửa đón khách tham quan, thế nhưng, hàng ngàn lượt người đã “tranh thủ” tìm mọi cách để… ghé mắt dòm từ ngày 5/10.

Những cây cảnh “siêu khủng” được giới chơi cây định giá nhiều triệu đô khiến người xem phải… choáng. Đương nhiên, với giá trị tài chính tầm đó, những “tuyệt tác” trên, chỉ để… ngắm, và các chủ sở hữu, có lẽ phải dùng… bao tải để đựng tiền, nếu như có ý định chuyển nhượng.
Mô tả ảnh.
"Chung một cội nguồn"



Mô tả ảnh.
"Cửu long tranh châu".

Mô tả ảnh.
"Long cuốn thủy"


Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.
Người xem ngợp giữa vườn cây độc nhất vô nhị.


Mô tả ảnh.
"Cổ - kỳ - mĩ - văn".


Mô tả ảnh.
Siêu cây "Mâm xôi con gà"
Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.
Những tác phẩm chỉ có từ ý tưởng sáng tạo.


Mô tả ảnh.
Phối cảnh Khuê Văn Các dưới gốc cây đại thụ.



Những tuyệt phẩm bằng gỗ lũa, đá... cũng có mặt để làm nên một quần thể sinh vật cảnh chưa từng có. Người xem như bị lạc giữa "mê hồn trận" ngày hội của sự sáng tạo và tài hoa đất Việt.  
Mô tả ảnh.
Cổng trời?

Mô tả ảnh.
"Rồng thời Lý"  - tác phẩm gỗ lũa của Bà Rịa - Vũng Tàu.



Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.
Lũa hình Rồng.

Mô tả ảnh.
Tác phẩm đá "Chim Việt"


Mô tả ảnh.
Bộ lũa hình... nấm hay hình cây cổ thụ?!.
Mô tả ảnh.
Những tuyệt phẩm chỉ để... ngắm!

Theo: Kiên Trung
(Vietnamnet.vn

Biến di tích 400 tuổi thành... 1 ngày tuổi!

TRÙNG TU TÔN TẠO THÀNH NHÀ MẠC (TUYÊN QUANG):
Biến di tích 400 tuổi thành... 1 ngày tuổi!




Thành nhà Mạc (thành Tuyên Quang) tính đến nay đã trải qua 418 năm tồn tại, dẫu hoang phế song nó vẫn xứng đáng là một pho sử kỳ vĩ, một di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Thế rồi, thành Tuyên Quang được người ta lập dự án ngót chục tỉ đồng để “trùng tu tôn tạo”.   

Đổi hơn 400 năm cổ lấy cái “lò gạch”
Gạch rêu ố, chỗ đỏ au, tường thành nứt toác, cây dại phong kín, những chùm thân rễ si cổ thụ uốn lượn như mãng xà. Người Tuyên Quang có phong trào chụp ảnh cưới bên trăm năm cổ thành, nhiều hoạ sĩ, nghệ sĩ đã đoạt nhiều giải thưởng qua các tác phẩm “sáng tác” bên vẻ đẹp bể dâu hiếm có đó. Nay, bỗng dưng, hai cái cổng cũ của thành Tuyên Quang bị “gọt bỏ rêu phong”, đắp điếm gạch mới và bêtông sắt thép vào, đỏ son, mới tinh. Nhiều người yêu lịch sử, văn hoá, kiến trúc bày tỏ quan điểm rõ ràng: Việc “khoác tấm áo mới” cho cổ thành hôm nay đã khiến toà thành từng là “pháo đài thép” bên bờ sông Lô kia đã... “thất thủ” vĩnh viễn. Nó thất thủ sau ngót nửa thiên niên kỷ trụ vững trước bao nhiêu là binh lửa, giặc giã, mưa dập gió vùi.
Thành nhà Mạc trước khi trùng tu.
Thành nhà Mạc trước khi trùng tu. Ảnh: Quang Minh.
Hiện nay, trên các trang mạng, đặc biệt là trong các câu chuyện của bà con Tuyên Quang, kể cả câu chuyện của cán bộ văn hoá tỉnh khi trả lời phỏng vấn PV Lao Động, ba chữ “cái lò gạch” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trùng tu, không lẽ là việc “làm mới di tích” thế ư? Sao lại đánh đổi bức cổ thành mỹ miều và hoang phế tuyệt diệu mà phải mất hơn 400 năm chúng ta mới có được kia lấy một cái “lò gạch một ngày tuổi”?
Anh Quang Minh - một nghệ sĩ chơi ảnh nổi tiếng ở thành phố Tuyên Quang, người đã 51 năm sống ở phường Tân Quang, nơi toà thành toạ lạc, người đã 20 năm cầm máy chụp ảnh cho các cặp uyên ương trong ngày cưới với phông nền là cổng cổ, tường thành cũ nhà Mạc... Gặp tôi, anh Minh chán ngán: Họ trùng tu kiểu gì, làm thành thấp lùn đi, xấu xí đi. Bà con bảo nó như cái lò gạch. Nhà văn Phù Ninh - nguyên Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Tuyên Quang - thở dài: Trùng tu gì thì trùng tu, phải tôn trọng nguyên trạng của di tích chứ. Rồi ông già kiệm lời mang cho tôi xem một bức ảnh cổ thành ở phương Tây in trong cuốn lịch treo tường nhà ông: Đấy, ở nước ngoài, các bức tường thành cổ, họ để nguyên cây dại, gạch đá cũ, họ bảo vệ cho nó không sập giúp người sau thấy được bước đi, vẻ đẹp và sự khắc nghiệt của thời gian, của lịch sử in dấu trên di tích đó.
Người viết bài này có ít nhiều gắn bó với đất Tuyên Quang, lần nào chạm vào thị xã (mới “lên” thành phố được ít ngày), cũng sững người khi thấy các toà cổng, các tường thành rêu phong cổ kính của di tích quốc gia thành nhà Mạc. Giữa tấp nập “phồn hoa đô hội” thời mới, giữa một “đảo” (ngã tư) đường trung tâm có một phom cổng cổ (cổng Tây thành Tuyên Quang). Nó khiến ta nghĩ về một cõi u hoài, một sự cảm khái nao lòng, về số phận và lịch sử của miền địa linh nhân kiệt nằm gọn trong vòng tay ôm, tròn trịa, thân ái, tốt tươi của sông Lô đó. Ở Việt Nam còn quá ít các toà thành, các cổng thành cổ kiểu này. Thành Bắc Ninh thì không cho du khách vào thăm ngắm. Thành Sơn Tây còn lại 3 cổng thì bỗng dưng người ta “trùng tu” phá tan toà cổng đẹp nhất, nếu báo chí không lên tiếng thì hai cổng còn lại cũng sẽ bị “làm mới” theo đúng kế hoạch kiểu “đạn đã lên nòng”.
Đã có lần tôi dừng xe, đưa chính em gái mình đứng trong toà khum khum, nứt toác, xanh rì và cuồn cuộn cây dại của cổng Tây thành Tuyên Quang mà chụp ảnh, rồi lo lắng: Hy vọng họ sẽ không trùng tu cẩu thả, để làm mới di tích văn hoá, “bảo tàng” tự nhiên này (như thường thấy). Thật không ngờ, như các cụ nói, “phỉ phui cái mồm”, hôm nay trở lại, đã gặp hai cái lò gạch mới toe như lời bà con Tuyên Quang nói với tôi.
Tôi không bất ngờ, không khó hiểu, nhưng tôi thật sự bất bình.
và sau khi được
và sau khi được "rót" tiền tỉ để trùng tu. Ảnh: Đ.D.H.
“Quy trình” đánh tráo cây đèn Alađin
Làm việc với cán bộ hữu quan tỉnh Tuyên Quang về dư luận ầm ĩ xung quanh vụ cái lò gạch mới được đầu tư to tiền nhất tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi mới giật mình: Dự án khoảng 9,8 tỉ đồng trùng tu thành nhà Mạc này đã được thực hiện rất “đúng quy trình”. Tiền từ “bộ” rót về đấy chứ. Tức là: Nhiều lần cử tri chất vấn ngành văn hoá tỉnh trong các kỳ họp Hội đồng Nhân dân (có văn bản kèm theo), rằng sao có tiền mà không trùng tu thành nhà Mạc, để nó nhếch nhác quá. Ngành văn hoá kết hợp với Cty tu bổ di tích ở trung ương lập kế hoạch, dự toán đủ thứ suốt gần hai chục năm. Rồi đưa lên Sở Kế hoạch - Đầu tư thẩm định. Rồi trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh, trình Thường trực Tỉnh uỷ, xin thỏa thuận của Cục Di sản văn hoá, xin Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ VHTTDL). Duyệt, cấp kinh phí, lập đủ ban bệ rồi mới “thi công”. Vẻ như, không có ai tùy tiện hay ngẫu hứng làm cho thành Tuyên “thất thủ” trước sự thiếu kiến thức hay quá khích “phá thành đào đất làm lò gạch” cả. Nhưng...
“Không hiểu sao bà con, cư dân trên mạng, kể cả những người trả lời phỏng vấn chúng tôi, những người thật sự yêu thành Tuyên Quang... đều thất vọng, bất bình, “nổi đoá” lên vì việc biến thành Tuyên thành cái... như là lò gạch nhỉ?” - tôi hỏi một cán bộ sở trực tiếp giữ toàn bộ hồ sơ, tham gia vụ “trùng tu tôn tạo” này từ đầu chí cuối, giữa lúc anh đang ôm tài liệu để trả lời nhà báo, thì anh nói: “Đúng là tôi có nghe, bà con bảo nó giống như cái lò gạch mới quá”. Nói rồi, anh cán bộ im lặng.
Chúng tôi ra giữa “đảo giao thông”, nơi toà cổng phía Tây tuyệt đẹp của thành Tuyên Quang đã biến mất hoàn toàn vẻ quyến rũ cách đây ít ngày. Một cổng thành như vừa được dựng lên bằng bìa cáctông để... diễn kịch “vẽ nhọ bôi hề” hiện ra. Có lẽ, Tuyên Quang là tỉnh duy nhất ở Việt Nam có một toà cổng thành hơn 400 năm tuổi lại nằm giữa cái bùng binh của ngã tư đường trung tâm của thành phố tỉnh lỵ như vậy. “Di tích 1 ngày tuổi” nằm trọn vẹn, tơ hơ ở đó, gạch mới đỏ au, tinh tươm, mới mẻ từ chân lên đầu, từ trong ra ngoài, gạch đá trét ximăng trắng lốp tứ bề. Xung quanh “đảo” là chi chít cọc bằng inox sáng choang. Cọc to, giữa các cọc có xích sắt to bằng ngón chân cái, buông chùng để... bảo vệ. Phải trèo qua hàng rào inox vào trong cổng thành, thì may ra bạn mới nhìn thấy vài dấu vết của mấy viên gạch cũ.
Thành Tuyên hình vuông, mỗi bề dài 275m; tường cao 3m; dày 0,8m đã vật vã tồn tại 418 năm qua trước bao nhiêu dâu bể - thế rồi, giờ đây, nó phải “quy hàng” rồi bị dồn đến chỗ “thất thủ” trước dự án gần 10 tỉ đồng kia. Không lấy ý kiến nhân dân, không tham khảo ý kiến những người thật sự yêu mến, thích thú, am hiểu về di tích thành nhà Mạc trên xứ Tuyên và cả nước, thế nên, dự án đã có một “quy trình” thực thi mà tự những người trong cuộc cứ thế vừa “đá bóng” vừa “thổi còi”, rồi tự cho mình là đúng! Tôi có cảm giác, toà cổ thành 418 năm tuổi, đã hội tụ bao nhiêu thương yêu, cả máu và nước mắt của bao thế hệ người xứ Tuyên kia như chiếc đèn thần của Alađin, thế rồi, người ta bỏ gần chục tỉ đồng ra để “đánh tráo” nó đi, “đền” vào đó một cây đèn đồng nát.
Trước tập hồ sơ dày cồm cộp, dấu triện đỏ, bản vẽ mênh mông mà người ta đặt trước mặt mình để “giải trình” về việc thành Tuyên biến thành lò gạch một cách đúng quy trình ra sao, tôi chỉ biết ngậm ngùi. Ai duyệt, ai vẽ dự án, ai thi công, ai giám sát, ai nghiệm thu, ai xuất ra tiền tỉ (từ tiền thuế của dân) để đẩy thành cổ ra nông nỗi: Một “di tích” phủ bóng gạch mới và vôi vữa ximăng, kèm theo xích sắt và cọc sắt sáng quắc này? Bất kể là bộ hay là cục, là UBND tỉnh hay sở nọ sở kia, thì vẫn có một sự thật: Người ta đã gọt bỏ rêu phong, đã phá đi dấu tích 418 năm lịch sử tuyệt vời của thành Tuyên để thu về cái thứ “1 ngày tuổi”.
Lại còn thế này, có người thậm chí còn yêu cầu “dỡ gạch hai bên tường (của cổng thành) thấp xuống, mở rộng tầm nhìn cho xe cộ” (trích văn bản mà chúng tôi đang có trong tay), ôi chao, trùng tu như thế là... chọc tiết di tích đấy, các vị ơi. Nữa, các phom cổng, các bức tường thành lưu dấu mấy trăm năm dâu bể đẹp rực rỡ như thế, vì sao phải phun hoá chất “diệt trừ tận gốc cây dại” để làm mới di tích, trong khi các “toà thiên nhiên” cây bám, dây leo, cây cổ thụ đã là một phần giá trị không thể thiếu của di tích?
Sự kỳ khôi này, có lẽ, chỉ những người trong cuộc mới hiểu nổi.
Ảnh: Quang Minh.
Ảnh: Quang Minh.
Thành nhà Mạc 418 năm tuổi, sau khi bộ “rót” tiền tỉ vào đầu tư, nó đã mới toe như mới 1 ngày tuổi; và... kém thẩm mỹ như thế này đây!
Thành nhà Mạc 418 năm tuổi, sau khi bộ “rót” tiền tỉ vào đầu tư, nó đã mới toe như mới 1 ngày tuổi; và... kém thẩm mỹ như thế này đây!. Ảnh: Đ.H.H.
“Giữ nguyên di tích gốc hiện có” theo kiểu... “làm mới”?
Từ ngày 1.3.1996, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang - ông Vũ Mạnh Thắng đã có thông báo về chủ trương đầu tư trùng tu di tích thành nhà Mạc. Có vẻ thận trọng lắm, bởi phải 11 năm sau, năm 2007, UBND tỉnh Tuyên Quang đã có tờ trình gửi thường trực Tỉnh uỷ, theo đó, “nguyên tắc trùng tu” là phải: “Phải tận dụng, sử dụng loại vật liệu xây dựng của di tích gốc đã có; nghiêm cấm không được làm thay đổi, biến dạng di tích gốc và phải đảm bảo giữ nguyên di tích gốc hiện có”.
Và, đến tháng 12.2007, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang đã ký quyết định “phê duyệt chủ trương” với nguyên tắc trùng tu tương tự. Tuy nhiên, không biết họ làm kiểu gì, mà việc “giữ nguyên di tích gốc hiện có lại đồng nghĩa với việc biến các phom cổng thành cổ, hoang phế, đẹp như một kỳ quan kia thành cái... “lò gạch mới”.    
Đỗ Doãn Hoàng
(Báo Lao động)

Chuyện viên ngọc 100 tấn làm sống lại đôi rồng thế kỷ X


100 tấn ngọc quý, 3 năm ròng rã trăn trở nghiên cứu mẫu và chế tác… cùng biết bao những câu chuyện ly kỳ về tác giả của bản “Chiếu dời đô” bằng ngọc quý lớn kỷ lục.


“Ngọc bất trác bất thành khí”, một viên ngọc dù có quý giá đến đâu nhưng không có bản thiết kế tốt, không được mài giũa thì mãi vẫn chỉ là một viên ngọc bình thường. Tìm được viên ngọc như ý, có một đội ngũ thợ và nghệ nhân nhiệt huyết với công việc… nhưng như thế vẫn chưa đủ! Bởi lẽ khi đã có trong tay viên ngọc Casêđôn 100 tấn, nhưng anh Lê Xuân Phương vẫn ngày đêm trăn trở về bản thiết kế. Với một tác phẩm quý giá thì hoạ tiết khắc trên đó là yếu tố quan trọng hàng đầu.
Được các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội ủng hộ cùng sự góp sức của các thành viên trong nhóm thực hiện, “Chiếu dời đô” bằng ngọc quý đã hoàn thành
Được các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội ủng hộ cùng sự góp sức của các thành viên trong nhóm thực hiện, “Chiếu dời đô” bằng ngọc quý đã hoàn thành
Ngoài việc tìm kiếm, nghiên cứu tư liệu đông tây kim cổ trong các sách cổ thư thì những kinh nghiệm tích luỹ trong thời gian 30 năm tiếp xúc với ngọc được anh Phương đem ra vận dụng vào việc chế tác “Chiếu dời đô” bằng ngọc.
Rồng thế kỷ thứ 10 ngẩng cao đầu kiêu hãnh
Sau một thời gian dài mày mò, nghiên cứu và chọn lựa, cuối cùng mẫu hoạ tiết được chọn, đó là một trang văn bản của “Chiếu dời đô”, một đôi rồng thời Lý cùng một số các hoạ tiết hoa văn cổ khác.
Tuy nhiên khi đi vào thực tế, việc chọn lựa các mẫu cụ thể lại nảy sinh thêm nhiều vấn đề nan giải.
Hình ảnh đôi rồng mang hơi hướng thế hỷ 21 với phần đầu vươn cao tự hào với năm châu bốn bể là một điểm đặc biệt của “Chiếu dời đô” bằng ngọc
Hình ảnh đôi rồng mang hơi hướng thế hỷ 21 với phần đầu vươn cao tự hào với năm châu bốn bể là một điểm đặc biệt của “Chiếu dời đô” bằng ngọc
Đối với trang văn bản của “Chiếu dời đô”, về ý nghĩa lịch sử thì không có gì đáng bàn, bởi đúng vào dịp Đại Lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, sự xuất hiện của một trang văn bản khổng lồ trong “Chiếu dời đô” – linh vật gắn liền với một điểm mốc quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển đất nước - là một niềm tự hào lớn không chỉ với thủ đô mà còn vô cùng ý nghĩa với truyền thống của dân tộc. Vấn đề ở đây là trong số rất nhiều phiên bản “Chiếu dời đô” của vua Lý Công Uẩn, việc xác định một bản với các kiểu chữ, cỡ chữ, hoạ tiết và nội dung sao cho đúng với lịch sử và phù hợp cả với thời thế là rất khó khăn.
Đối với hình ảnh đôi rồng thời Lý, nhóm thực hiện cũng gặp những khó khăn tương tự. Đôi rồng được chọn là đôi rồng cổ thời Lý, với bố cục nằm ngang, phần thân và phần đuôi sắp xếp theo thế “Long chầu”. Nhưng với mong muốn tạo được sự khác biệt trên tác phẩm của mình, nhóm thực hiện “Chiếu dời đô” đã tiếp nhận những góp ý của các giáo sư, nhà nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là của viện Hán Nôm. Nhờ vậy, hình ảnh đôi rồng đã được “cải biến” thành đôi rồng có phần đầu ngẩng cao kiêu hãnh, tượng trưng cho niềm tự hào của những người dân Việt Nam về truyền thống lịch sử hào hùng với 1.000 năm xây dựng và phát triển.
Cứ mỗi lần nhận được góp ý xác đáng, sau khi bàn bạc, nghiên cứu, nhóm thực hiện “Chiếu dời đô” lại tỉ mỉ sửa lại từng lỗi nhỏ của tác phẩm. Mỗi lần sửa là mỗi lần ngừng lại và “nghe ngóng” các phản ứng và những nhận xét của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu lịch sử của Hà Nội. Cứ như thế, lời khen và ý kiến đồng tình thì phát huy, lời chê và góp ý thì tiếp thu và sửa cho tới khi văn bản trên “Chiếu dời đô” hoàn thành.
“Chế” ngọc 3 năm đổi lấy niềm vui trọn vẹn
“Chiếu dời đô” là một vật quý, quý không chỉ bởi chất liệu làm ra nó, mà còn bởi sự tâm huyết, nhiệt tình chung sức chung lòng của nhiều cá nhân và tập thể. Ngay từ những ngày đầu, khi biết được kế hoạch xây dựng bản “Chiếu dời đô” và mục đích dành tặng cho thủ đô nhân ngày Đại lễ, nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội đã nhiệt tình ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho nhóm thực hiện “Chiếu dời đô” bằng ngọc quý có thể chế tác và hoàn thành đúng thời hạn. Đó cũng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp việc thực hiện “Chiếu dời đô” bằng ngọc được thành công.
“Chiếu dời đô” bằng ngọc sẽ được trưng bày trong sân Hoàng thành Thăng Long trong suốt 10 ngày Đại Lễ
“Chiếu dời đô” bằng ngọc sẽ được trưng bày trong sân Hoàng thành Thăng Long trong suốt 10 ngày Đại Lễ
Về kinh phí, có rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp, những người muốn đóng góp tấm lòng của mình tới đất nước nhân sự kiện “nghìn năm mới có một lần” cùng đóp góp và san sẻ. Trong quá trình chế tác, những nhà nghiên cứu, nghệ nhân… cũng sẵn sàng làm việc hết mình để có được kết quả tốt nhất cho tác phẩm. Chính sự tổng hoà của những nhân tố trên đã là động lực to lớn để nhóm thực hiện “Chiếu dời đô” bằng ngọc quý có được niềm vui trọn vẹn như ngày hôm nay.
Một viên ngọc có được xem là quý hay không, ngoài yếu tố chất liệu ra, còn phụ thuộc nhiều vào “cái duyên” của từng viên ngọc. Từ xưa đến nay, người ta hay dùng ngọc để ví von những vật quý giá, lời nói hay thì gọi là “nhả ngọc phun châu”, con sông quý thì gọi là “ngọc hà”, thân thể quý giá thì gọi là “ngọc thể”, toà thành quý thì gọi là “ngọc thành”, tất cả đều diễn tả được vai trò và sự trân trọng của con người với ngọc… Những người chơi ngọc, đã từng tiếp xúc với ngọc rồi dần dần thành say mê ngọc cũng chỉ vì “ngộ” ra được những điều đó.
Những người tìm hiểu về ngọc, thì ngoài loại ngọc, hình dáng và màu sắc thì mẫu vật phẩm sẽ chế tác trên viên ngọc đó là điểm quan trọng hàng đầu. Khi cầm trong tay một viên ngọc thô, người thợ chế tác sẽ xem xét và tìm hiểu kỹ càng về hình dáng, màu sắc và dáng của chúng, dựa vào đó để tìm thấy một “cái duyên” phù hợp.
Anh Lê Xuân Phương cùng nhóm thực hiện chính là những người đã tìm thấy được điểm giao thoa giữa “cái duyên” của viên ngọc Casêđôn 100 tấn và trang bản thảo “Chiếu dời đô”, bỏ ra 3 năm ròng rã tác hợp chúng trở thành một “mối nhân duyên” vô cùng ý nghĩa, góp mặt vào ngày Đại lễ của thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
Thu Hương
(Báo Lao động)

Chuyện ly kỳ về “Chiếu dời đô” kỷ lục làm từ 100 tấn ngọc quý



100 tấn ngọc quý, 3 năm ròng rã trăn trở nghiên cứu mẫu và chế tác… cùng biết bao những câu chuyện ly kỳ về tác giả của bản “chiếu dời đô” bằng ngọc quý lớn kỷ lục.


Công cuộc “săn”… ngọc
Chúng tôi tìm gặp ông chủ của 100 tấn ngọc Casêđôn khi anh đang cùng những đồng nghiệp của mình hoàn thành những công đoạn cuối cùng của bản “Chiếu dời đô” bằng ngọc quý lớn kỷ lục. Công trình “chiếu dời đô” bằng ngọc được xây nốt phần móng trụ để chuẩn bị trưng bày trong Hoàng Thành Thăng Long trong thời gian diễn ra Đại lễ.
Anh Lê Xuân Phương bên bản “Chiếu dời đô” lớn kỷ lục làm từ ngọc quý
Anh Lê Xuân Phương bên bản “Chiếu dời đô” lớn kỷ lục làm từ ngọc quý
Tác giả của bản “Chiếu dời đô” là anh Lê Xuân Phương, Viện trưởng Viện nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp và doanh nhân Đông Nam Á. Xuất phát từ lòng yêu quý Thủ đô và nhân dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội “nghìn năm mới có một lần”, anh đã cùng nhiều bạn bè, đồng nghiệp quyết tâm chế tác thành công bản “Chiếu dời đô” đặc biệt để dành tặng cho Hà Nội. Ý tưởng chế tác “Chiếu dời đô” làm từ ngọc đã được anh Phương ấp ủ từ năm 2007, khi còn 3 năm nữa mới tới lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. 
Công cuộc “săn” …100 tấn ngọc quý
Từ việc chọn đá, chọn mẫu, chế tác hay ý tưởng tạc một trang của chiếu dời đô lên tảng ngọc quý, đều do anh Phương tự lên kế hoạch và cất công tìm người thực hiện. Từ những ngày đầu bắt tay thực hiện công trình lớn, anh đã tự nhủ là sẽ đặt toàn bộ tâm huyết và công sức vào đó. Bước đầu tiên và cũng khó khăn nhất là việc chọn nguyên liệu.  Được sự góp ý và tư vấn của bạn bè, người thân, anh Phương lập tức bắt tay ngay vào công cuộc “săn”…ngọc. Tảng đá quý nặng 100 tấn là do anh cất công từ Bắc vào tận Bảo Lộc, Lâm Đồng đặt mua, sau khi đã bỏ nhiều công sức tìm kiếm. 
Là một người đã có 30 năm tiếp xúc và trực tiếp chế tác trên ngọc, anh Phương nhận thấy loại ngọc dùng để chế tác bản chiếu dời đô phải là một loại ngọc đặc biệt. Và với kinh nghiệm tích luỹ trong 30 năm của mình, anh Phương rất ưng ý với loại ngọc Casêđôn. Casêđôn là một loại thuộc dòng ngọc bán quý, có độ cứng cao, ít bị bào mòn bởi thời gian, rất thích hợp với việc lưu giữ và trưng bày “Chiếu dời đô” sau này.
Mặt trước của “Chiếu dời đô” bằng ngọc có tạc một trang của “Chiếu dời đô” cùng hoạ tiết Rồng thời Lý
Mặt trước của “Chiếu dời đô” bằng ngọc có tạc một trang của “Chiếu dời đô” cùng hoạ tiết Rồng thời Lý
Đối với những người sành ngọc nói chung thì Casêđôn là một loại ngọc bán quý, không quá khó tìm, nhưng để có được một viên ngọc có kích thước đúng như yêu cầu là cả một thách thức lớn. Nhờ vả những mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, chạy đôn chạy đáo khắp nơi, cuối cùng anh cũng đã có thông tin đầu tiên về một tảng ngọc Casêđôn quý giá ở Myanmar. Đáp máy bay sang Myanmar, lặn lội tìm đến tận địa chỉ có ngọc nhưng cuối cùng anh lại chỉ thu về… nỗi thất vọng khi thấy viên ngọc quá nhỏ so với dự kiến.
Khi đang gặp bế tắc trong vấn đề tìm ngọc, thì thật bất ngờ, anh lại có thông tin về một viên ngọc Casêđôn cỡ lớn ở ngay tại Việt Nam. Mừng như bắt được vàng, anh Phương vội vã tìm đến địa chỉ chủ nhân viên ngọc ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Khi tận mắt nhìn thấy viên ngọc, anh đã quá vui mừng và nhận ra đây chính là thứ mình cần, là chiếc “Chiếu dời đô” kỷ lục vô cùng đặc biệt sẽ có mặt tại Hà Nội trong dịp Đại lễ sắp tới.
Gãy cẩu, đứt cáp vì “Chiếu dời đô” quá… “khủng”
Tìm được nguyên liệu nhưng quá trình di chuyển viên ngọc về xưởng sản xuất tại Hà Nội cũng gặp phải không ít khó khăn. Viên ngọc nguyên bản có chiều dài 6,9 mét, rộng 4,9 mét, nặng 100 tấn. Trong khi dùng cần cẩu di chuyển, do kích thước quá lớn nên đã khiến cẩu đứt cáp và gẫy, viên ngọc cũng vì thế mà bị hao hụt ít nhiều. Qua những chặng đường vất vả, khi mang về tới xưởng chế tác, viên ngọc chỉ còn 19 mét khối.
“Chiếu dời đô” đang trong giai đoạn hoành thành, chuẩn bị triển lãm tại khu vực sân Hoàng thành Thăng Long
“Chiếu dời đô” đang trong giai đoạn hoành thành, chuẩn bị triển lãm tại khu vực sân Hoàng thành Thăng Long
Tìm được nguyên liệu quý đã khó, nhưng phần chế tác cũng khiến anh Phương và các cộng sự phải không ít phen “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”. 30 nghệ nhân và thợ làm việc trong xưởng ngọc của gia đình anh phải thay phiên nhau túc trực liên tục 24/24 giờ để làm cho kịp tiến độ. Những người thợ tuổi đời còn rất trẻ nhưng khi tận mắt chứng kiến sự nhiệt tình và tấm lòng muốn đóng góp và cống hiến hiện vật có ý nghĩa cho đất nước, đã tình nguyện làm không nhận lương và ngày đêm cùng anh chế tác thành công bản “chiếu dời đô” kỷ lục.
Lần đầu tiên làm việc với một viên đá quý có kích cỡ lớn như thế, lại là một công trình quan trọng có ý nghĩa với cả nước, nên những người thợ và nghệ nhân cũng gặp không ít áp lực. Anh Hoàng Anh Tuấn, thợ cả chịu trách nhiệm chính trong xưởng chế tác ngọc của anh Xuân Phương chia sẻ: “Khi mang đá về, chúng tôi đã bỏ rất nhiều thời gian để khảo sát và mài thử trước rồi mới dám bắt tay vào thực hiện trên đá thật. Lại thêm thời gian quá gấp nên số thợ cũng được huy động tối đa cho kịp ngày bàn giao sản phẩm. Lúc nào ở xưởng cũng có từ 10-12 thợ cùng đội ngũ phục vụ làm việc không kể ngày đêm.”
(còn tiếp)
Thu Hương
(Báo Lao động)