Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013
Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013
Thuốc từ hoa xuân: ăn mai uống đào
SGTT.VN - Những ngày tết Nguyên đán, trong gia đình của mỗi người dân Việt Nam đều chưng một cây mai (người miền Nam) hoặc đào (miền Bắc). Chúng ta thường nghĩ hoa tết chỉ để làm cảnh, chưng cho đẹp, mấy ai biết lúc thiếu rau, khi ăn uống không tiêu, khi ho… chúng ta có thể hái nó xuống ăn hoặc dùng làm thuốc.
Hoa mai: khơi lòng nhẹ ngực
Hoa mai trắng. Ảnh: Q. Như |
Cần phân biệt cây mai vàng (có tên khoa học là Ochna integerrima (Lour) Merr) với cây mai trắng (tên khoa học là Prunus armeniaca L). Trong y học cổ truyền, hoa mai trắng được dùng làm thuốc phổ biến hơn.
Hoa mai trắng (ở ta chính là hoa của cây mơ, còn gọi là lạp mai, bạch mai, tuyết lý hoa…) chứa nhiều tinh dầu như cineole, borneol, linalool, benzyl alcohol, farnesol, terpineol, indol... và một số chất khác như meratin, calycanthine, caroten... Nghiên cứu hiện đại cho thấy, hoa mai trắng có tác dụng thúc đẩy bài tiết dịch mật, ức chế một số loại vi khuẩn như coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lao... Theo dược học cổ truyền, hoa mai trắng vị ngọt hơi đắng, tính ấm, không độc, có công dụng giải thử sinh tân, khai vị tán uất, hoá đàm, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, chán ăn, chóng mặt... Các y thư cổ đều ghi lại nhiều phương thuốc dùng hoa mai:
Tăng huyết áp, cơn đau thắt ngực: hoa mai 3g, thảo quyết minh 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.Trúng thử gây tâm phiền, đau đầu, chóng mặt: hoa mai 15g, hoa cúc trắng 15g, hoa hồng 15g, hãm uống thay trà.
Chướng bụng, đầy hơi: hoa mai 10g, mộc hương 10g, hương phụ 15g, sắc uống.
Đau bụng do lạnh: hoa mai và chu sa liên lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 – 6g với rượu nhạt.
Buồn nôn: hoa mai 5g, nước cốt gừng tươi 5ml. Đem hoa mai hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là dùng được, chắt ra hoà thêm nước gừng tươi rồi uống, mỗi ngày dùng hai thang.
Đau khớp do phong thấp: hoa mai 9g, thạch nam đằng 9g, thố nhĩ phong 9g, đem ngâm với 200ml rượu, mỗi lần uống 30 – 50ml.
Viêm họng, viêm amiđan: hoa mai 6g, huyền sâm 9g, bản lam căn 9g, sắc uống.
Ho dai dẳng: hoa mai 9g hãm uống thay trà trong ngày.
| Hoa mai vàng (Photo: Comaihoa) |
Còn hoa mai vàng (còn gọi huỳnh mai) vỏ cây có vị đắng, tác dụng giúp tiêu hoá. Lá non của mai vàng có thể dùng làm rau xanh. Ở miền Nam, người ta phơi hay sấy khô vỏ cây mai vàng, rồi ngâm vào rượu để chiết những chất có vị đắng, làm thuốc bổ, lợi tiêu hoá. Vào những ngày tết, ăn nhiều thịt, mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh, nếu làm một ly rượu đắng mai vàng khai vị, sẽ thấy ngon miệng hơn. Trong đông y, rễ mai vàng có thể dùng làm thuốc xổ (tẩy) nhẹ sán lãi và làm thuốc chữa trị các hỗn loạn bạch huyết.
Hoa đào: xuân lại làn da
Hoa đào. Ảnh: T. Linh |
Cây đào có danh pháp khoa học Prunus persica. Theo y học cổ truyền, hoa đào có tính bình, vị đắng, đi vào hai kinh can - vị, có công năng hoạt huyết, lợi thuỷ, thông tiện, chữa trị chứng thuỷ thũng, đàm ẩm, tích trệ, đại tiểu tiện không lợi, kinh nguyệt không thông...
Hoa đào tươi hoặc khô đều được dùng làm thuốc, nhưng hoa tươi, đặc biệt là loại mới chớm nở tốt hơn hoa khô. Tốt nhất là dùng ở dạng trà. Mỗi ngày hãm 5g trong nước sôi, thêm một ít mật ong, uống vào sáng sớm. Đối với chị em phụ nữ, dùng nước sắc hoa đào rửa mặt có thể làm giảm nếp nhăn trên da mặt. Hoặc lấy hoa đào, nhân hạt bí đao lượng bằng nhau nghiền mịn, trộn với mật ong, buổi tối xoa lên mặt, sáng dậy rửa đi, các vết nhăn sẽ giảm dần. Đối với những người da mẫn cảm, có nhọt lâu khỏi, mụn mủ đặc, có thể trong uống ngoài thoa.
Cần lưu ý, phụ nữ có thai không nên dùng, vì thuốc có tác dụng phụ gây hưng phấn tử cung.
Đừng nài hoa ép liễu mà hoạ vào thân
Trong y học cổ truyền, các loại hoa đều có tính vị riêng và cho tác dụng ở các kinh lạc khác nhau trong cơ thể. Dùng đúng cách đúng liều thì tác dụng tốt cho cơ thể, phòng bệnh, chống lão hoá, giúp trẻ lâu. Cách đơn giản nhất là tự chế thành trà, dễ uống và còn giữ được mùi thơm, tuy nhiên cần lưu ý: hoa thường có cấu tạo mỏng manh, do đó dễ bị hư hỏng nếu bảo quản không đúng cách, chỉ nên phơi trong mát hoặc sấy nhẹ ở 50oC, giữ kín trong lọ để giữ mùi hương, nên dùng phương pháp hãm nước sôi hoặc đun sôi nhanh để tránh mất hoạt chất. Hoa có tác dụng hoạt huyết, thông kinh, phá huyết, ứ khứ (như đào, hồng, nguyệt lý, linh lăng, phượng tiên) không được dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh, huyết ra nhiều. Những người có cơ địa dị ứng cần rất thận trọng khi dùng phấn hoa.
Nếu chưa biết rõ tính chất dược lý của hoa thì không nên dùng, chỉ được dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa, và cần được theo dõi chặt chẽ.
TS.DS LÊ THỊ HỒNG ANH
THẦY THUỐC ƯU TÚ, TRUNG ƯƠNG HỘI ĐÔNG Y VIỆT NAM.
THẦY THUỐC ƯU TÚ, TRUNG ƯƠNG HỘI ĐÔNG Y VIỆT NAM.
Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013
Vui, vui
Sinh ra làm chú cầy tơ
Trước sau rồi cũng… lá mơ, sả, riềng…
Xếp hàng vào quán... xào, chiên
May ra sớm được quy tiên, chầu trời!
LT
Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013
Những loài hoa: Đẹp người, đẹp nết.
Hoa thường chỉ để trang trí nhưng thực tế, ngay cả những loài hoa đơn giản như sim, dâm bụt, hoa nhài... lại có công dụng trị bệnh không ngờ. Thậm chí có loài hoa còn chữa được cả những bệnh nan y mà y học hiện đại bó tay. Quả là "đẹp người" lại đẹp cả "nết" nữa.
Hoa dâm bụt: Dược liệu này vị ngọt, trơn nhầy, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, tiêu sưng…
Hoa nhài: Hoa nhài có thể trị đau đầu và ho. Biện pháp sử dụng hoa nhài đơn giản nhất là uống trà hoa nhài. Trà hoa nhài có thể được sử dụng để điều trị đau đầu, ho và bệnh thấp khớp…
Hoa cúc bách nhật: Theo y học cổ truyền, cúc bách nhật vị ngọt tính bình có công dụng thanh can tán kết (làm mát tạng can và làm mất hiện tượng kết tụ), làm sáng mắt, ngừng ho hen, chữa đau đầu....
Hoa mào gà: Theo Đông y, hoa mào gà đỏ có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, chỉ huyết, chỉ lỵ. Dùng chữa trĩ lậu hạ huyết, xích bạch hạ lỵ, thổ huyết.
Sim: Theo tài liệu Đông y, cây sim rừng chứa khá nhiều chất sắc. Bên cạnh những sản phẩm từ sim rừng như trà hoa sim, rượu, mật, xi-rô... Không dừng lại ở những ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm, các bộ phận của cây sim rừng, từ thân, lá, rễ đến quả, hoa còn là những bị thuốc tốt đối với sức khỏe.
Chính vì vậy, hoa sim ngâm nước có thể dùng để vệ sinh các vết loét. Ngoài ra, bạn có thể lấy lá sim sắc thành nước để rửa vết thương, vế trày xước. Hoặc bạn có thể rửa sạch lá sim tươi, giã nát, đắp vào vế thương giúp cầm máu và mau lành da. Bạn cũng có thể dùng búp sim sắc lấy nước uống, chữa bệnh tiêu chảy hoặc rối loạn tiêu hóa khá hiệu quả.
Hoa thủy tiên: Ít ai có thể biết rằng thuỷ tiên với vẻ đẹp quý phái, hương thơm dịu mát không chỉ tô điểm cho hương vị ngày xuân thêm ấm áp mà còn được dùng làm thuốc.
Theo dược học cổ truyền, Hoa thuỷ tiên vị đạm, tính mát; rễ cây hoa vị đắng, tính lạnh, có công dụng khứ phong, thanh nhiệt, hoạt huyết điều kinh, tiêu thũng giải độc. Được dùng chữa kinh nguyệt không đều, mụn nhọt, viêm loét tuyến vú, quai bị viêm hạch…
Tóc tiên leo: Theo Đông y, tóc tiên leo có vị ngọt đắng, tính hàn, có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận táo, sinh tân hóa đờm, lợi tiểu. Hạt có tác dụng nhuận tràng. Một số bài thuốc thường dùng: Chữa cảm sốt gây háo khát; Chữa táo bón; Chữa các chứng tân dịch hao tổn, miệng khô khát sau ốm dậy, da xanh, gầy, người mệt mỏi …
Hoa cúc trắng: Đây cũng là loại hoa dùng để pha trà rất tốt cho sức khỏe. trà này có công dụng làm nhuận da khiến da trở nên hồng hào và thanh nhiệt, giải độc.
Cúc vạn thọ: Hoa cúc vạn thọ rất được ưa chuộng và được trồng phổ biến ở Việt Nam dùng để trang trí sân vườn, làm cây cảnh, phục vụ cúng, lễ và trưng bày trong dịp Tết Nguyên đán. Ngoài ra vạn thọ còn có tác dụng xua đuổi côn trùng có hại, dùng lá để chữa bệnh nấc cụt.
Theo kinh nghiệm dân gian, dùng hoa cúc vạn thọ, giã nát, trộn với ít đường, hấp chín, nghiền nát, chắt nước uống, có tác dụng chữa kiết lỵ. Nếu phối hợp với húng chanh, hoa đu đủ đực, đường phèn, hấp chín, chắt lấy nước uống có tác dụng chữa go gà và viêm phế quản.
Bồ công anh: Hàm lượng magiê cao trong bồ công anh rất tốt cho những bệnh nhân loãng xương, còi xương. Bồ công anh có tác dụng nâng đỡ và tăng cường hoạt động của các cơ quan nội tạng trong cơ thể, chữa suy nhược, biếng ăn.
Bồ công anh còn có tính lọc máu, tẩy độc cho cơ thể và làm gia tăng sức đề kháng. Bồ công anh còn chữa viêm loét dạ dày, ung thư vú, mụn nhọt, ghẻ lở, các bệnh ngoài da, giúp làn da tươi sáng, trẻ hóa, ngừa ung thư nhờ tác dụng tăng cường thải độc cho gan.
Hoa đại (hoa sứ): Cây hoa đại hay còn gọi là bông sứ, tên khoa học của cây là Plumeria rubra L.var.acutiforia Bailey, thuộc họ Trúc Đào. Theo Đông y, hoa đại có tác dụng thông phế khí, tiêu đàm, thanh nhiệt, giải độc. Thời xưa, dân gian sử dụng hoa đại phơi khô để dùng làm thuốc chữa ho, kiết lị, đi lỏng. Ngày nay, hoa đại còn được dùng để trị cao huyết áp...
Hoa atisô: Trong đông y, hoa atisô dùng trong các trường hợp đau gan, đau dạ dày, ăn uống không tiêu, sản phụ ít sữa, tiểu đường thống phong, thấp khớp, suy nhược cơ thể... Hoa atisô có tác dụng bổ dưỡng, kích thích tiêu hóa, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, thường dùng nấu canh.
Hoa atiso chứa protein, lipid, glucid (chủ yếu là inulaza rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường), mangan, sắt, các vitamin A, B1, B2 và vitamin C, giúp ăn ngon, bổ tâm can, lọc máu giải độc. Người ta còn chẻ hoa atisô nhỏ ra, rồi hầm với xương, thịt heo hoặc thịt bò ăn rất tốt.
Theo Kiến thức
Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013
Bí quyết có chậu đu đủ cảnh đẹp chơi tết
Một chậu đu đủ cảnh được coi là đẹp chơi trong những ngày tết phải có đủ hoa, lá và quả. Quả có đủ 3 loại, non, già, chín và có thế dáng siêu. Làm thế nào để có được những chậu đu đủ cảnh như vậy?
1. Thời vụ: Ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, thời vụ trồng bắt đầu từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 âm lịch. Thu hoạch vào dịp Tết Nguyên đán.
2. Giống trồng: Giống đu đủ lai F1 chuyên trồng làm cảnh: Cây lùn, lóng đốt ngắn, trồng cây nào có quả cây đó.
Vườn đu đủ cảnh của gia đình anh Đỗ Mạnh Hùng thôn Sở Đông, xã Long Hưng (Văn Giang, Hưng Yên). |
- Chậu: Dùng chậu sứ hoặc chậu xi măng chuyên dụng, kích thước: 90x40x40cm, lỗ thoát nước ở đáy, xung quanh.
- Đất trồng: Bao gồm hỗn hợp đất thịt ải, xỉ than tỷ lệ 3:1, ủ kỹ 12-15 ngày trước khi đưa vào chậu, 1m3 hỗn hợp này đủ cho 11-12 chậu trồng đu đủ cảnh. Yêu cầu, đất thịt ải phải là đất mới chưa qua gieo trồng bất cứ loại rau màu nào.
4. Ươm giâm bầu cây và trồng cây con lên chậu:
Trồng đu đủ cảnh nhất thiết phải trồng bằng cây con đã gieo ươm trong bầu; cần giâm lại cây giống ở nơi cao ráo, thoáng mát. Hàng ngày tưới nhẹ, bón thúc 1 lần sau giâm cây 2-3 ngày bằng super lân, liều lượng 100-150g super lân pha cho bình 8-12 lít nước, phun đều cho các bầu cây. Khoảng 12-15 ngày sau giâm có thể đưa cây trồng lên chậu.
Trồng cây lên chậu: Đưa hỗn hợp đất, xỉ than đã chuẩn bị trước đó đổ đầy cách miệng chậu 5-7cm. Bón lót mỗi chậu 0,5kg NPK (15-9-17+TE), và 0,2kg vôi bột. Nhấc nhẹ bầu cây, dùng dao sắc rạch nhẹ vừa đứt lớp vỏ bao bầu từ trên xuống đáy bầu nhưng không bóc bỏ vỏ bầu, để định hướng sự phát triển rễ cây trong chậu sau này. Trồng cây ngay ngắn trong chậu, phủ đất kín bầu, nén chặt nhẹ, tưới dưỡng ẩm hàng ngày. Đặt các chậu cây trong vườn so le nanh sấu cách nhau 2m x (1,5-1,7m).
4. Chăm sóc, uốn vít cây
Sau trồng cây lên chậu cần tưới ẩm ngày 1-2 lần, dùng rơm, rạ che phủ mặt chậu để hạn chế bốc thoát hơi nước và giữ ẩm cho cây. Định kỳ 15 ngày bón thúc phân hữu cơ, vô cơ và 30 ngày bón vôi bột, rắc trực tiếp lên mặt chậu xa gốc cây, các loại phân có thể dùng như: Phân gà, phân lợn, phân chim cút, phải ủ hoai mục, tốt nhất sử dụng bã thải từ hầm biogas hoặc bột ngô đỏ, đậu tương ủ với super lân cho lên men rồi bón. Liều lượng mỗi lần bón cho 1 gốc: 0,2kg vôi bột, 0,2kg NPK Đầu Trâu (15-9-17+TE) + 1-1,5 phân hữu cơ hoặc 0,5kg ngô, đậu tương, giai đoạn cây mang quả bón tăng lượng NPK lên 0,3kg.
Khoảng 25-30 ngày sau trồng, tiến hành uốn vít cây: Dùng dây mềm, chắc, to bản (2-3cm), không co dãn, buộc vít cây tại vị trí 3/4 thân (từ gốc), kéo ngả dần về hướng đã định, ghim cố định dây chặt xuống đất. Chú ý: Đu đủ là cây thân thảo, mềm, dễ gãy vỡ, nên cần uốn vít dần dần. Kéo vít như vậy sau khoảng 3 tháng cây đã đến độ nghiêng 30-35 độ so với mặt đất thì dừng lại, cố định chặt dây cho đến khi đưa chậu cây ra thị trường.
5. Phòng trừ sâu bệnh: Cây đu đủ cảnh thường bị một số sâu, bệnh hại chính như: Nhện đỏ, rệp sáp, bệnh khảm, xoăn lá do virus, có thể phòng trừ bằng một trong các loại thuốc BVTV: Danitol 10EC; Ortus 5EC, Nitac 5EC; Supracide, Suprathion...
6. Một số chú ý khác:
Cách khắc phục rễ đu đủ mọc luồn qua các lỗ thoát nước gây nứt vỡ chậu: Chọn mua hoặc đặt làm các chậu có lỗ thoát nước nhỏ dưới 2cm; Đặt một miếng ngói hoặc cục xỉ than lên lỗ chậu; Sau trồng 2-3 tháng, định kỳ 15-20 ngày xoay chậu 1 vài lần.
Nguyễn Hải Tiến
(theo Dân Việt)
Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012
Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






