Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Thú chơi đá cảnh:Thiên nhiên lắm vật hữu tình







    … Cùng một viên đá, có người thấy nhưng cho là tầm thường, bỏ qua, người khác cảm được vẻ đẹp của nó mới giữ lấy. Có khi tìm được đá nhưng người ta chưa nhìn ra ngay cái “thần”, phải chiêm ngắm cả mấy tháng trời mới ngộ ra được vẻ đẹp ẩn giấu…


    Ngoạn thạch hay còn gọi là chơi đá cảnh là một thú chơi nghệ thuật đã có từ lâu đời. Người xưa quan niệm đá có hình dạng sống động, hài hòa, màu sắc đẹp là nhờ sự kết tinh linh khí của trời đất mà thành.
    Ở TP.HCM, nói đến chơi đá, nhiều người biết đến anh Bùi Đức Tầm - một trong những người chơi đá đã khá lâu và còn góp phần hình thành nên phong trào chơi đá suiseki (đá tự nhiên) một cách bài bản. Nghe anh nói chuyện say mê về đá, người ngoại đạo cũng ngộ ra nhiều điều và thấy đá không chỉ là đá nữa…
Tình yêu với đá
    Mê đá đến mất ăn mất ngủ, với anh Tầm, không có gì sướng bằng được đi săn lùng, được tận tay tìm nhặt những viên đá đẹp để mang về nâng niu, ngắm nghía. Anh nhớ lại, lúc hơn mười tuổi, trong lần đi chơi, anh tình cờ nhặt được trong đống cát một hòn sỏi nhỏ bằng ngón tay có hình dáng khá lạ.



Vịnh Hạ Long thu nhỏ

    Với trí tưởng tượng của mình, cậu bé Tầm nhìn thấy nó có hình khuôn mặt người. Viên sỏi đó được anh gìn giữ cẩn thận và theo anh rất lâu, tiếc là sau mấy lần anh dời nhà, nó bị thất lạc. Bây giờ nhắc lại, dù đã sở hữu một bộ sưu tập đá công phu, anh vẫn tiếc ngẩn ngơ viên sỏi nhỏ ấy. Đó là kỷ niệm đầu tiên khiến sau này anh bén duyên với đá.
    Trong nhà anh, đá được dành đặt tại những chỗ trang trọng nhất. Nhưng vì không đủ chỗ, anh phải xếp cả ở gầm cầu thang, bởi nguyên một phòng trên lầu chỉ dành cho đá cũng đã trở nên chật chội. Vì thế, anh có ý định muốn về quê ở Long An cất một ngôi nhà theo kiểu xưa để làm chỗ trưng bày đá, rủ rê bạn bè đến thưởng ngoạn, bình về đá.
    Tỉ mẩn lau chùi, xịt nước lên từng viên đá, anh nói: “Chơi đá cảnh không cầu kỳ và tốn nhiều công chăm chút như với hoa, bonsai, chim chóc…, nhưng vẫn phải bảo dưỡng để có viên đá đẹp. Tôi cũng đã từng chơi vài thứ khác như phong lan, cây khô…, nhưng chỉ khi đến với đá, tôi mới thấy nó khơi đúng niềm đam mê của mình. Cái sướng của người chơi đá chính là việc sở hữu được những viên đá độc bản. Bởi đã chơi đá suiseki phải tôn trọng tuyệt đối tính tự nhiên của đá, hoàn toàn không có sự can thiệp của bàn tay con người vào việc tạo hình dáng, màu sắc cho đá”.



Anh Bùi Đức Tầm và công việc chăm sóc đá, phun nước, lau chùi cho đá bóng, đẹp

    Những tạo tác của thiên nhiên quả là món quà vô giá, có khi phải mất hàng mấy chục năm, thậm chí qua sự biến thiên hàng trăm năm mới tạo ra được một viên đá đẹp.     “Dưỡng thạch như dưỡng tâm”, muốn làm liền những vết nứt, rạn trên đá, người chơi phải phơi sương, ngâm bùn, phải phun nước cho đá trơn mịn.
    Nếu chưa được anh Tầm giới thiệu, chúng tôi khó tin được những khối đá có hình dạng giống như khuôn mặt người khi thì cười tươi, khi lại trầm buồn, hình tượng Phật, hình cảnh vật sông núi, con vật, trái cây… hay những hoa văn trên đá có hình như một bức tranh thủy mặc hoàn toàn do thiên nhiên tạo ra.
Vật vô ngôn nhưng hữu tình
    Với người chơi đá, ai cũng biết đá là vật vô ngôn nhưng lại rất hữu tình. Tình yêu đá tùy vào khả năng cảm nhận của từng người. Ai “ngộ” được đá thì nhìn đá không là một vật vô tri nữa, cũng không thấy đá lúc nào cũng cứng răën mà có khi rất mềm mại. Đá có thể nói chuyện với người. Nếu tinh tế, chỉ cần thay đổi hướng nắng hoặc không gian trưng bày là thay đổi vẻ đẹp của đá.



Đá có hình dáng như trái tim

    Trong bộ sưu tập của anh Tầm, đá có đủ hình dạng, màu sắc mà mỗi viên là một câu chuyện. “Khó có thể tưởng tượng được sự kỳ diệu của thiên nhiên khi tạo ra dáng đá. Hầu như trong trời đất có cảnh vật gì thì đá đều có hình dáng như thế. Chỉ sợ mình không có duyên gặp và giữ được những viên đá đẹp mà thôi” - anh nói và hướng dẫn chúng tôi xem.
    Có viên đá nhìn phía trước giống như đầu con chim cú, nhưng nếu xoay ra phía sau lại là một con lân! Phiến đá khác chỉ bằng bàn tay, khi để đứng có dáng người đang đứng, để nằm ngang lại như hình một dãy núi và nếu lật ngược lại thì ra một chiếc thuyền. Rồi một bộ ba hòn đá kết có hình các ông Phước - Lộc - Thọ. Lại có những viên đá “thấu thạch” tạo thành một tiểu cảnh ao hồ, có cầu bắc ngang, có hang động, chiếc cổng trời.



Khối đá nhìn phía sau có hình con lân

    Rất nhiều phiến đá có hình dạng núi, cả bộ linga và yoni. Những phiến đá phẳng có hình hoa văn đồ thị thì như một bức tranh thiếu nữ, ông già câu cá... cũng chẳng thiếu. Anh rất thích phiến đá đen nhám ở giữa nổi gờ mà anh gọi là “dãy Trường Sơn”, phiến đá có hoa văn như tranh Picasso, tảng đá như vịnh Hạ Long, hình núi bậc thang… Nhiều đêm, bên ấm trà, anh ngồi săm soi từng viên đá, có khi phải nhắm mắt lại, đặt tay chạm nhẹ vào đá để cảm nhận từng chất đá.



Hoa văn như tác phẩm của Picasso

    Anh phân trần: “Nhiều người hay nói rằng “thổi hồn cho đá”, nhưng tôi không đồng ý với ý kiến đó vì thấy không đúng. Bản thân đá đã có hồn, người chơi đá chỉ phát hiện ra vẻ đẹp cũng như hồn của đá mà thôi”. Tuy do thiên nhiên tạo ra nhưng đã là đá suiseki thì phải thỏa mãn các tiêu chí: Thứ nhất là thạch ý, tức hình dạng đá phải có ý nghĩa, đường nét phải rõ ràng. Thứ hai là thạch chất, tức là đá phải đúng độ răën.  Thứ ba là thạch sắc, đá phải có màu sắc đậm đà. Các loại đá được chuộng có các loại sáp vàng, huyền vũ, vỏ lê, vỏ dưa, hóa thạch, trầm tích, mai rùa, vân thạch (đá có vân)…



Hoa văn đồ thị như những bức tranh

    Để có được những viên đá có một không hai, người chơi đá đều tin rằng không phải do công giỏi tìm kiếm mà do có “nhân duyên”. Có khi bỏ thời gian làm một chuyến đi, cất công tìm mà không được viên đá nào, còn những lần rất ngẫu nhiên lại có được những tác phẩm ưng ý. Cùng một viên đá, có người thấy nhưng cho là tầm thường, bỏ qua, người khác cảm được vẻ đẹp của nó mới giữ lấy. Có khi tìm được đá nhưng người ta chưa nhìn ra ngay cái “thần”, phải chiêm ngắm cả mấy tháng trời mới ngộ ra được vẻ đẹp ẩn giấu.



Như dáng một người ngồi cúi đầu

    Trong giới chơi đá, có những câu chuyện về “hoàn thạch” thường được truyền tai nhau, không biết thực hư thế nào nhưng có luật bất thành văn là không bao giờ lấy đá ở các di tích lịch sử, nơi tôn nghiêm, danh lam thắng cảnh… chỉ lấy đá tồn tại tự nhiên như quà thiên nhiên ban tặng chứ không làm tổn hại đến thiên nhiên. Đó cũng là một thứ đạo của người chơi đá.
Để chuyên nghiệp hơn một thú chơi
    Bắt đầu chơi đá từ sau năm 1975, nhưng thời gian mà anh tìm được nhiều đá nhất là khoảng những năm 1990-1995. Do làm việc tại Hãng phim Giải Phóng, thường xuyên theo đoàn làm phim đi quay ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung, anh hay tranh thủ những chuyến đi ấy để tìm đá. Nghe vùng nào có đá là anh tìm đến. Có khi ở nhà mà anh “bỗng dưng biến mất”, đó là anh lang thang đi Nha Trang, Đà Lạt một mình bằng xe máy cũng chỉ để tìm đá.



Thấu thạch

     Lúc đầu anh chơi đá theo cảm tính, thích là giữ lấy chứ không theo tiêu chí nào, vì không có tài liệu nào hướng dẫn cho người chơi đá. Dần dà, anh tự rút kinh nghiệm và được giới thiệu với Hội Chơi đá cảnh Đài Loan, được tiếp xúc với những người có cách chơi đá khá bài bản. Đến khi phong trào chơi đá cảnh ở TP.HCM được hình thành từ những nhóm chơi nhỏ lẻ, anh tham gia và đoạt được một số giải thưởng ở Hội hoa Xuân Tao Đàn.
   Sau đó, anh mày mò tìm hiểu và chủ động trao đổi hiểu biết về đá cảnh với những ai cùng có niềm say mê đá. Năm 2005, Bùi Đức Tầm được kết nạp vào Hội Đá cảnh châu Âu. Hiện anh là trưởng nhóm chơi đá thuộc Câu lạc bộ Bonsai của Trường đại học Khoa học Tự nhiên. Hình như cái tên cũng chính là số phận của anh, luôn lấy việc tìm kiếm đá làm thú vui.
Theo tintuc.timnhanh.com





Thích Ca Thành Đạo
Tác phẩm của đại đức Thích Nhuận Tâm


Kỹ thuật “Đảo cành lấy chi”

Trong quá trình nuôi xương chi cho Bonsai không phải ai cũng có may mắn là nuôi được tay chi cho mọc đúng vị trí cần. Nhất là trường hợp cành rơi là hay bị tình trạng thiếu xương để làm đủ tàn. Nhiều khi nuôi được 1 cành rơi rất dài nhưng chi để tạo xương chi cho dày tàn thì lại thiếu: hoặc là không có, hoặc chỉ có mọc một bên một nên không thể làm được 1 tàn rơi đẹp đúng nghĩa được. 
Để khắc phục tình trạng thiếu hoặc mọc sai vị trí của xương chi, chúng ta có thể áp dụng kỹ thuật: Đảo cành lấy chi.

Để hiểu rõ hơn chúng ta sẽ tham khảo chi tiết của việc thực hiện kỹ thuật này:
Trước tiên chúng ta quan sát hình ảnh 1 cây vừa được uốn sửa xong:



Trên hình chúng ta thấy đây là 1 cây may mắn có tương đối đầy đủ xương chi để ta có thể uốn sửa được 1 bộ tàn tương đối đủ và kín với các chi mọc đúng tất cả các vị trí: Xét điển hình là cành rơi: các chi mọc đúng chỗ, co đầu lượn ra sau có 1 chi, tiếp đến là chi đuổi, đến co 2 đưa về trước cũng có 1 chi đúng chỗ và cứ thế theo nhịp lắc lượn của cành rơi ta thấy cành rơi của cây này hầu như có đủ chi tại các chỗ cần thiết, tạo cho cành rơi rất tình và ấm tàn.

Tuy nhiên, để có được như vậy khó ai biết rằng, chỉ trước đó khoảng 1 tiếng đồng hồ, các chi xương của cành rơi này hầu như bị mọc sai chỗ và rất thưa, nhìn là biết không thể làm đủ tàn rơi rồi:
- Cây lúc ban đầu, các chi xương của cành rơi bị mọc sai vị trí: co đầu thì lại lượn về phía trước làm mất chiều sâu của cành, đã vậy 2 chi xương đầu lại mọc về phía trước che hết cả cành rơi, co đẹp và lại bị cùng về 1 phía. Chưa kể cành rơi thì thẳng đuột, chi xương thưa thớt, suôn đuột cho đến hết ngọn cành rơi luôn:






- Để cành rơi đẹp, chúng ta phải làm sao uốn lại sao cho co đầu tiên của cành rơi phải đi ra sau, cành rơi phải có độ lắc lượn thật là khúc khuỷu đến độ 3D để nhìn ấn tượng, không bị thấy thẳng tắp và suôn tuột và phải làm sao để có nhiều chi thì cành rơi mới ấm tàn được.
Muốn vậy chúng ta phải áp dụng kỹ thuật : Đảo cành lấy chi:
Đầu tiên chúng ta dùng lực tay, uốn thật khéo léo sao cho co đầu của cành rơi phải đảo hẳn 180 độ ra sau để nhìn cho có chiều sâu, khi uốn đảo được co đầu ngược ra sau thì cũng có nghĩa là ta đã mang được chi xương 1 của cành rơi ra sau cho đúng vị trí. Tương tự ta dùng sức (chú ý đến độ giãn nở của cành, tránh bị gãy) uốn ngược chi xương 2 và 3 thành chi đuổi và chi xương 3 đằng trước đúng kỹ thuật, tham khảo hình ảnh sau khi đã uốn:







- Tiếp tục kỹ thuật Đảo cành để các chi cần thiết về đúng vị trí cho đến hết chiều dài của cành rơi, chúng ta sẽ có 1 cành rơi hoàn hảo hơn nhiều so với ban đầu chưa uốn:





Tiếp tục chỉnh sửa các chi khác, sau cùng chúng ta sẽ có được 1 cây tương đối hoàn thiện với gần như đầy đủa chi xương ở các vị trí mong muốn để cho bộ tàn tương lai được kín, ấm và tình hơn.



Vài điều lưu ý:

- Để có thể uốn lật ngược cành 180độ cần phải đạt đến "cảnh giới" cảm giác gãy. nếu đạt đến mức độ cảm giác này sẽ cảm nhận được sự gãy từ từ bên trong cốt cành. Nếu cảm thấy được sẽ uốn khó gãy hay nứt hơn.
Nếu không cảm giác được có thể dùng dây nylon quấn chặt cành trước khi quấn dây nhôm để uốn.
Trong các trường hợp nứt gãy thì cố gắng xoắn vặn sao cho cốt cành toạc đôi theo chiều dọc là cây khó chết nhất, dùng thuốc bôi lên cây sẽ từ từ liền thẹo.

- Một cành rơi đẹp phải đạt 2 yếu tố là nhìn phải 3D và có những co ấn tượng:
Để uốn được nét 3D cần phải uốn được cành sao cho Lắc và Lượn thật nhiều thì nhìn sẽ rất có chiều sâu (Lắc là uốn các co theo chiều nằm ngang, Lượn là uốn các co theo chiều thẳng đứng).
Tạo các co ấn tượng: tùy theo khả năng và cảm nhận của mỗi người cũng như tùy theo khả năng về độ cong của từng loại cây mà uốn các khúc co sao cho nhìn "khó chịu" nhất là được.

Lâm Ngọc Vinh
Caycanhvietnam.com

Hành hương Yên Tử, chiêm bái … Mai vàng

Xưa nay, loài hoa đặc trưng cho ngày Tết theo vùng miền vẫn luôn được biết đến với Mai vàng phương Nam và Đào thắm xứ Bắc. Nhưng giờ đây, miền Nam nắng ấm không còn “độc quyền” cây Mai nữa! Trên chốn non thiêng Yên Tử lạnh giá, người ta đã phát hiện ra một giống Mai quý mà tương truyền có từ thời vua Trần Nhân Tông, cách đây gần 800 năm.



Mai Vàng chốn  Non thiêng

Tại chốn non thiêng Yên Tử, cây Mai vàng được phát hiện như một khám phá đầy bí ẩn: Mai vàng nở ngay trên độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển. Năm 2007, một số người dân địa phương và du khách khi đến vãn cảnh chùa đã tình cờ phát hiện ra giống Mai quý này. Để phân biệt với Mai vàng ở miền Nam, người ta đã gọi nó là “Mai vàng Yên Tử”.



Theo các nhà khoa học, Mai vàng Yên Tử và các giống Mai đang được trồng ở khu vực phíaNam đều có chung nguồn gốc phân loại thực vật. Chúng đều thuộc loài Ochna integerrima(Lour. Merr.) Vậy Mai vàng Yên Tử có trước hay Mai vàng miền Nam có trước? Hiện vẫn chưa có một nghiên cứu nào khẳng định được mốc thời gian chính xác cho các giống Mai này. Có giả thuyết cho rằng, Mai vàng đã di thực từ phía Nam Việt Nam lên vùng núi Yên Tử và sinh sống đến ngày nay. Một giả thiết khác lại cho rằng, chúng di thực từ vùng núi Tây Nam(Trung Quốc) sang vùng núi Yên Tử (Việt Nam) sau đó đó mới di thực về phía Nam ViệtNam và các nước Đông Dương khác.


Sử liệu ghi nhận, vào khoảng những năm 1285- 1288, sau khi dẹp xong giặc phương Bắc, vua Trần Nhân Tông đã truyền ngôi cho con trai và lên tu hành trên núi Yên Tử, nơi sau này ông đã sáng lập ra Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. Tương truyền rằng, vào thời gian đó Phật hoàng Trần Nhân Tông đã phát động các tín đồ phật tử trồng cây Mai vàng. Sau nhiều năm được bàn tay các phật tử chăm sóc, cùng với sự ưu ái của thiên nhiên, những cây Mai nhỏ bé đã biến thành rừng Mai rộng lớn. Theo mốc thời gian đó, tính đến nay rừng Mai này đã gần 800 năm tuổi. Phật tử và du khách đến đây đã kính cẩn đặt tên cho khu rừng này là “Đại lão Mai vàng Yên Tử”.


Có lẽ sự khác biệt lớn nhất mà người chơi mai vàng Yên Tử quan tâm là khả năng sinh sống và nở hoa trong điều kiện khí hậu có nhiệt độ lạnh của miền Bắc. Chính điều này đã tạo nên những đặc điểm về hình thái, hương thơm và thời điểm nở hoa khác hẳn so với các giống hoa Mai vàng ở phương Nam.

Về mặt hình thái, cây Mai vàng Yên Tử là loại mai có 5 cánh, đọt (lộc) màu xanh. Cánh hoa có màu vàng tươi rất sáng và có mùi thơm nhẹ đặc trưng rất dễ chịu. Trên một cành có rất nhiều hoa. Kích thước hoa không lớn, đường kính khoảng 2- 3cm. Vào mùa hoa nở hầu như chỉ thấy các bông hoa Mai vàng rực rỡ mà không thấy lá. Lá to hơi tròn, có màu xanh đậm, mép lá trơn và không có răng cưa. Mai vàng Yên Tử trong tự nhiên lớn rất chậm. Cây có thể cao đến 15 mét, đường kính thân 60-70 cm và có rất nhiều cành. Cây thường mọc trên các vách đá, gần các khe suối trong rừng.
  
Hành hương Yên Tử, chiêm bái … Mai vàng
Theo nghiên cứu, cây hoa Mai vàng Yên Tử được phân bố chủ yếu tại đãy núi Yên Tử thuộc huyện Đông Triều và thị xã Uông Bí của tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, Mai vàng Yên Tử lại được chia thành các cụm, các vạt rừng ở những địa điểm khác nhau. Tại mỗi địa điểm có đến hàng chục, hàng trăm cây có độ tuổi từ vài chục đến vài trăm năm. Nếu đi sâu vào rừng, ta có thể được chiêm ngưỡng những cây có đường kính một người ôm, ước chừng khoảng 600 đến 700 năm tuổi.

Một điều đặc biệt là hầu hết các địa điểm phát hiện có Mai vàng Yên Tử sinh sống đều gắn liền với các di tích hay các ngôi chùa mà vua Trần Nhân Tông từng tu hành. Điều này có vẻ như liên quan mật thiết với sự kiện vua Trần Nhân Tông phát động các phật tử trồng Mai vàng. Tại khu vực làng Tây Sơn ở xã Bình Khê, huyện Đông Triều, Mai vàng được phát hiện quanh khu vực chùa Ngọa Vân, ngôi chùa được cho là nơi vua Trần Nhân Tông đến tu hành trước khi viên tịch.

Vào dịp Lễ hội Yên Tử, các phật tử và du khách thập phương náo nức về dự hội và ngắm hoa Mai nở. Khoảng trung tuần tháng 2 (âm lịch) hàng năm, tức là giữa mùa lễ hội, cả khu rừng Mai vàng Yên Tử đồng loạt nở hoa. Màu sắc rực rỡ của hoa làm sáng cả một khu rừng, hương thơm rất dễ chịu. Hương thơm này được những cơn gió núi đẩy từ trên cao đưa xuống. Khách du Xuân nếu ai may mắn được tận hưởng hương thơm này, hãy nhắm mắt lại thư giãn và thả tâm hồn mình bay bổng theo những cánh gió để chiêm nghiệm về lẽ huyền vi của đất trời đang thể nhập vào bạn.

Nếu bạn là người trân quý vẻ đẹp tự nhiên, hãy một lần chiêm bái Mai vàng khi hành hương Yên Tử! Bạn sẽ không chỉ được tĩnh tâm nơi đất Phật mà còn được giao kết với một vẻ đẹp vĩnh hằng.

Thông tin thêm:

- Vùng núi Yên Tử thuộc thị xã Uông Bí và huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, cách Hà Nội khoảng 120km. Hệ thống chùa Yên Tử được coi là nơi phát tích của Thiền phái Trúc Lâm, do vua Trần Nhân Tông sáng lập.

- Lễ hội Yên Tử diễn ra từ tháng 1- tháng 3 (Âm Lịch) hàng năm.

- Năm 2008 và 2009, Viện nghiên cứu Rau quả đã nhân giống thành công gần 5.000 cây mai vàng Yên Tử. Các cây mai này đang được người dân địa phương và Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử tiếp nhận để điều khiển nở hoa vào dịp Tết này.

- Nếu muốn tìm hiểu thêm về Mai vàng Yên Tử, bạn có thể liên hệ:
Viện nghiên cứu Rau quả Hà Nội
Thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
Tel: 04. 38276254/ 38276275.

 TS.Đặng Văn Đông – KS.Phùng Tiến Dũng.


________________________________________________________

Tham khảo thêm phim tài liệu về Mai vàng Yên Tử tại địa chỉ:


http://www1.vtc.com.vn/view/8/63597/phim_tai_lieu__mai_vang_yen_tu.aspx#/

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Giới thiệu về mai vàng Yên Tử

          Theo các tài liệu lịch sử, giống mai vàng Yên Tử được vua Trần Nhân Tông trồng tại Yên Tử cách đây chừng 800 năm (1285 - 1288)...


Anh: Net

Kết quả nghiên cứu bước đầu:
1. Về sự phân bố:
Sau khi tiến hành điều tra phỏng vấn thực địa trong 2 đợt (đợt 1 từ ngày 03/01/2008 đến ngày 10/01/2008, đợt 2 từ ngày 28/02/2008 đến ngày 07/03/2008), kết quả cho thấy cây Mai vàng Yên Tử không chỉ phân bố tại khu vực Yên Tử mà còn phân bố tại các vùng lân cận như khu vực rừng Bình Khê, khu vực gần thị xã Uông Bí. 
 Điều tra sơ bộ cho thấy, đa số cây Mai vàng có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên, thân gỗ lớn, chu vi gốc trung bình của các cây Mai vàng 40cm, cao từ 5 đến 7 mét, thân cành gân guốc, đa số mọc trên vách đá ở nơi có độ cao 400 đến 900 mét so với mực nước biển.   Theo thống kê có hàng nghìn cây Mai vàng tại khu vực Yên Tử, trong khi đó tại các vùng lân cận có số lượng gấp 3 lần so với ở đây.   Những cây Mai vàng tại Yên Tử có độ tuổi rất cao, dưới gốc không thấy có cây con. Mặc dù các cây Mai vàng này sinh trưởng phát triển tốt nhưng trong tương lai gần nếu không có các biện pháp nhân giống và bảo tồn thì khó có thể lưu giữ được rừng Mai vàng đẹp này.    Qua kết quả điều tra phỏng vấn thực địa, chúng tôi đã xác định được các điểm phân bố của cây Mai vàng trong vùng Yên Tử. Theo đó, cây Mai vàng Yên Tử phân bố tại các điểm sau:   - Chùa Một Mái.   - Chùa Bảo Sái.   - Chùa Vân Tiêu.   - Thác Vàng.   - Thác Bạc.   Tại các điểm này, số lượng cây Mai vàng cũng rất khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do những điều kiện về tự nhiên. Tại điểm Thác Vàng, Thác Bạc có rất nhiều cây Mai vàng sinh sống tại đây. Đây là điểm có các thác nước duy trì hầu như quanh năm nên đất được giữ ẩm. Tại các điểm khác (chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu), sự phân bố của cây Mai vàng thưa thớt hơn.   Xuất phát từ các kết quả thu được, chúng tôi tiến hành khoanh vùng phân bố cây Mai vàng Yên Tử trên bản đồ. Dựa vào bản đồ này, chúng ta có thể xác định được vùng mà trong đó có cây Mai vàng sinh sống. Từ đó có các biện pháp khoanh vùng bảo vệ cây Mai vàng. Tuy nhiên, để xác định chính xác hơn cần tiến hành các công việc cụ thể như xác định số lượng cây Mai vàng của từng điểm, xác định vị trí địa lý chính xác của từng điểm phân bố, đánh dấu các cây Mai cổ, …
Thảm thực vật tại Yên Tử (Ảnh: YENTUMAI)
2. Về đặc điểm phân loại thực vật:
a) Tên khoa học:
Để xác định chính xác tên khoa học của cây Mai vàng Yên Tử, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu (mẫu thân, lá, hoa, quả) trên cả cây Mai vàng Miền Nam và cây Mai vàng Yên Tử. Sau đó sử dụng phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn để xác định tên khoa học của cây Mai vàng Yên Tử.   Kết quả của phương pháp PCR cho thấy, cây Mai vàng Yên Tử và cây Mai vàng Miền Nam thuộc cùng một loài. Theo các nghiên cứu trước đây, cây Mai vàng Miền Nam có tên khoa học là Ochna integerrima (Lour.) Merr.
Bảng chạy điện di (Ảnh: YENTUMAI)
Qua bảng chạy điện di trên ta thấy, khi sử dụng cặp mồi OPC2 và S239 thì các đoạn DNA của Mai vàng Yên Tử và Mai vàng Miền Nam tạo ra các đường chạy như  nhau. Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định cây Mai vàng Yên Tử và cây Mai vàng Miền Nam là cùng 1 loài là Ochna integerrima (Lour.) Merr.   Phân loại thực vật cây Mai vàng Yên Tử (Mai vàng) được xác định như sau: Domain: Eukaryota Whittaker & Margulis,1978 – Eukaryotes Kingdom: Plantae Haeckel, 1866 – Plants Subkingdom: Viridaeplantae Cavalier-Smith, 1981 – Green PlantsPhylum: Tracheophyta Sinnott, 1935 ex Cavalier-Smith, 1998 – Vascular PlantsSubphylum: Spermatophytina (auct.) Cavalier-Smith, 1998 – Seed Plants Infraphylum: Angiospermae auct.Class: Magnoliopsida Brongniart, 1843 – Dicotyledons Subclass: Dilleniidae Takhtajan, 1967Superorder: Theanae Thorne ex Reveal, 1993Order: Ochnales Hutchinson ex Reveal, 1992Suborder: OchnineaeFamily: Ochnaceae (OK-nah) A.P. de Candolle, 1811 – Ochna FamilyTribe: OchneaeGenus: Ochna (OK-nah) Linnaeus, Sp. Pl. 1: 513. 1753. – OchnaSpecific epithet: integerrima (Lour.) Merr.Botanical name: Ochna integerrima (Lour.) Merr.
b) Đặc điểm thực vật:
Cây Mai vàng Yên Tử và cây Mai vàng Miền Nam thuộc cùng 1 loài. Theo Gagnepain, ở Việt Nam có 33,8 % số loài của hệ thực vật là loài di cư, trong đó có cây Mai vàng được di cư từ miền nam Trung Quốc. Nguyễn Nghĩa Thìn cũng đã khẳng định, cây Mai vàng Miền Nam có nguồn ở Đông Dương và miền nam Trung Quốc. Như vậy, cây Mai vàng Yên Tử cũng có nguồn gốc từ Đông Dương và Nam Trung Quốc.  Tuy nhiên, ở Việt Nam, chúng lại được phân bố tại 2 vùng có nền khí hậu rất khác nhau. Vậy, sự phân bố khác nhau này sẽ dẫn đến sự biến đổi về hình thái như thế nào?
* Đặc điểm về thân cành và lá:
Cây Mai vàng Yên Tử là tiểu mộc hoặc đại mộc nhỏ, vỏ thân xám trắng, cành non có bì khổng rất rõ, có chồi búp vào mùa bất lợi. Lá có phiến bầu dục, dài, mọc chụm ở đầu cành, cuống dài 0,3 – 0,5 cm, gân phụ rất rõ gồm 8 – 9 gân, mép lá có răng cưa. Mai vàng là cây thường xanh.
* Đặc điểm về hoa:
Qua theo dõi và quan sát, hoa của cây Mai vàng Yên Tử nở đúng vào dịp Lễ hội Yên Tử (Hội xuân Yên Tử), kéo dài từ giữa tháng 1 (Âm lịch) đến đầu tháng 3 (Âm lịch). Dịp Tết Mậu Tý 2008, do có nhiều đợt rét đậm kéo dài nên vào cuối tháng 1 (Âm lịch) hoa Mai bắt đầu mới nở và kéo dài đến cuối tháng 3 (Âm lịch).   Cây Mai vàng Yên Tử được xác định là mọc tự nhiên (có thể được trồng khi vua Trần Nhân Tông sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, cách đây chừng 800 năm). Vì vậy, hoa của cây Mai vàng Yên Tử không chịu ảnh hưởng nhiều bởi con người, đặc điểm hình thái hoa Mai vàng Yên Tử có thể coi là đặc điểm tự nhiên.
Đường kính hoa trung bình của các hoa điều tra là 4,5 cm, trong đó hoa lớn nhất có đường kính 4,9 cm, hoa nhỏ nhất có đường kính 4,3 cm. So với Mai vàng Miền nam được bán làm cảnh chơi Tết, đường kính của Mai vàng Yên Tử chỉ đạt mức trung bình và độ biến động về đường kính cũng không lớn. Điều này là do Mai vàng Yên Tử mọc trong điều kiện tự nhiên, chúng luôn phải tự bảo vệ để sinh tồn và sự tác động của tự nhiên tới chúng cũng là như nhau. Vì vậy, chúng không có sự biến đổi quá nhiều về mặt hình thái.
Về đài hoa, đài hoa của tất cả các hoa quan sát đều có màu xanh và không có sự biến động về số lượng. Qua kiểm tra ngẫu nhiên trên 30 bông hoa Mai vàng Yên Tử, tất cả đều có 5 cánh đài. Mỗi cánh đài đều có hình thon dài ( tỷ lệ CDĐTB/CRĐTB > 1) và cứng hơn so với cánh hoa (tràng hoa). Chiều dài cánh đài trung bình đạt 1,5 cm, cánh đài dài nhất 1,9 cm, cánh đài ngắn nhất 1,4 cm. Chiều rộng cánh đài trung bình 0,7 cm, lớn nhất 1,0 cm, nhỏ nhất 0,6 cm.
Số lượng cánh hoa của Mai vàng Yên Tử không có sự biến đổi, tất cả các hoa nghiên cứu đều có màu vàng và có 5 cánh hoa. Cánh hoa có hình thon dài, hơi to ở phần đầu cánh hoa. Cánh hoa khá mềm và nhanh héo sau khi ngắt hoa khỏi cành (chỉ khoảng 2 giờ). Cánh hoa có chiều dài trung bình 2,3 cm, lớn nhất 2,6 cm, nhỏ nhất 2,2 cm. Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Việt Chương, cánh hoa của Mai vàng Yên Tử không có sự biển đổi so với Mai vàng Miền Nam mọc tự nhiên.
Hoa mai vàng Yên Tử (Ảnh: YENTUMAI)
Nhị hoa có sự biến đổi về số lượng giữa các hoa. Trung bình số lượng nhị của các hoa nghiên cứu 36, hoa có số lượng nhị lớn nhất là 45, nhỏ nhất là 28. Có điều này có thể do vị trí khác nhau của các hoa trên cây hoặc trên các cây khác nhau. Tại các vị trí khác nhau trên cây hay trên các cây khác nhau thì điều kiện về dinh dưỡng và nước là khác nhau. Chính điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sụ hình thành và phát triển của các hoa. Vì vậy, các bộ phận của các hoa cũng bị tác động dẫn đến có sự biến đổi khác nhau.
Nhuỵ hoa khi quan sát từ bên ngoài thấy có hình ống. Khi tách và quan sát bầu nhụy trên kính hiển vi thì thấy có từ 10 lá noãn. Chiều dài trung bình của các nhuỵ 1,4 cm, lớn nhất 1,6 cm, nhỏ nhất 1,1 cm.
* Quả và hạt:
Quả Mai vàng là quả kép, bao gồm nhiều quả đơn. Quả kép Mai vàng gồm có từ 7 – 10 quả đơn, được sắp xếp thành một vòng tròn trên đế quả. Các quả đơn có màu nâu đen, vỏ quả bóng, căng và mọng.
Quả có hình giống hình bầu dục một đầu to và một đầu nhỏ, kích thước trung bình các chiều là 8 mm, 6 mm, 4 mm. Chiều dài lớn nhất của quả là 10 mm, nhỏ nhất là 7 mm; chiều rộng lớn nhất 7 mm, nhỏ nhất 5 mm; chiều dày lớn nhất 5mm, nhỏ nhất 4 mm. Như vậy, kích thước quả Mai vàng không có sự biến động lớn.
Mỗi quả đơn chỉ có 1 hạt. Hạt Mai có vỏ nhăn nheo, mỗi hạt có 2 lá mầm. Kích thước hạt cũng không có sự biến động lớn. Kích thước trung bình của các chiều là 7 mm, 5 mm, 3 mm. Chiều dài của hạt lớn nhất 9 mm, hạt nhỏ nhất 6 mm; chiều rộng của hạt lớn nhất là 6 mm, nhỏ nhất là 4 mm; chiều dày của hạt lớn nhất là 4, nhỏ nhất là 3.
Tỷ lệ nảy mầm của hạt rất cao, đạt 80 – 95 %. Điều này đảm bảo cho sự duy trì nòi giống trong tự nhiên của chúng. Trong chọn tạo và nhân giống cũng rất có ý nghĩa. Sử dụng cây con từ hạt để làm gốc ghép cho hiệu suất nhân giống cao.
KS. YENTUMAI
(Theo: Hoavacaycanh.com)

Anh: Suu tam tu Net

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Cây tự tưới nước để sống

Hầu hết những nhà làm vườn đều ao ước rằng cây cối do họ trồng có thể tự tưới nước để lớn lên. Một thời gian dài người ta cho rằng đó chỉ là giấc mơ hão, nhưng nay bằng một phát hiện khoa học hết sức kỳ thú, nhân loại đã biết rằng trên hành tinh của chúng ta có hẳn một loài cây có khả năng tự tưới nước để sinh trưởng. Đó là loài cây Đại Hoàng, sinh sống tại các vùng núi non khắc nghiệt ở hoang mạc Negev thuộc đất nước Israel.
Thông thường những loài cây sinh sống tại các vùng hoang mạc đều có những chiếc lá nhỏ bé nhằm ngăn chặn sự thoát hơi từ thân cây ra bề mặt không khí xung quanh. Nhưng với loài cây Đại Hoàng hoang mạc (tên khoa học là Rheum palaestinum), đặc tính sinh trưởng độc đáo hơn hẳn bởi nó có những chiếc lá khổng lồ. Với từ 01 đến 02 chiếc lá nằm xoay quanh trục thân, nhìn từ xa cây Đại Hoàng hoang mạc trông giống như một cây Cải Xoăn. Nhưng nhìn gần thì mỗi chiếc lá có kích thước đo được là 70 cm. Xét toàn diện, những chiếc lá của cây Đại Hoàng đóng vai trò như là một cỗ máy sinh học điều tiết đáng kể bề mặt của một dạng địa hình. Những chiếc lá của loài cây này có bề mặt dính như sáp, có tác dụng điều tiết các giọt nước luân chuyển đều khắp toàn bộ bề mặt của lá cây và từ đó thẩm thấu nước vào hệ rễ của cây.
Nhà khoa học Simcha Lev-Yadun và các đồng nghiệp của mình từ trường Đại học Haifa-Oranim ở Israel đã khám phá ra hiện tượng cây thực vật độc đáo này khi họ tình cờ nhìn thấy những chiếc lá có hình dáng kỳ lạ của nó. Sau một số lần thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và kết quả của các phân tích về sự tăng trưởng của cây Đại Hoàng, các nhà khoa học phát hiện rằng loài cây này có khả năng tích tụ một lượng nước đáng kể, tương tự như các loài thực vật sinh trưởng ở vùng Địa Trung Hải - nơi mà lượng mưa trung bình hàng năm đo được là 426 mm. Khi các nhà khoa học tiến hành thử trực tiếp tưới nước lên cây Đại Hoàng, họ nhận thấy rằng nước mà họ tưới tự chảy dọc theo các gân lá cây rồi xuống bề mặt đất xung quanh rễ cây sau đó nước tự ngấm vào lòng đất ở độ sâu đo được là 10 cm hoặc hơn.


                                                                                            Theo Khoa hoc va phat trien

Kỹ thuật trồng cây xương rồng bát tiên


Cây xương rồng Bát Tiên là cây nhiệt đới rất dễ trồng nhưng cũng cần phải biết một số đặc điểm về sinh thái về môi trường cũng như nơi xuất xứ của nó. Lúc ban đầu chúng ta phải làm sao tạo cho được môi trường khí hậu gần với môi trường khí hậu gốc, dần dần chúng ta mới tập cho nó quen dần thời tiết , khí hậu môi trường ở nơi chúng ta đang trồng, nghĩa là phải thuần hoá dần cây Bát Tiên theo khí hậu của Việt Nam, kế đến kỹ thuật trồng là quan trọng nhất, phải biết cho rõ một số điều kiện cần thiết để cho cây sống mạnh, siêng ra hoa, hoa lâu tàn…
1. Chậu trồng cây :
Cây Bát Tiên thường có thân nhỏ, trồng lâu năm mới phát triển, nhưng cây cũng không to lắm, nên không cần phải có chậu lớn. Thật ra có chậu nào trồng chậu đó cũng được, nhưng trồng làm cảnh cần phải có chậu đẹp như chậu Bát Tràng, chậu Minh Long, nó vừa bền lại vừa đẹp, bình thường ta trồng chậu bằng đất, khoảng 2-3 dm đường kính là được. Chậu đất nung vừa rẻ tiền vừa tiện lợi rất phù hợp trồng cây Bát Tiên. Những người có tiền, có thể đặt làm chậu men đề tên “Bát Tiên Phước Lộc Thọ Toàn “ với nhiều hoa văn và màu sắc rất đẹp. Nếu đơn giản thì dùng chậu nhựa cũng được
 Chất  trồng  
Là điều quan trọng thứ hai. Đất phải tơi xốp, không có đất sét, không có phèn, phải phơi khô để diệt hết vi khuẩn, hết côn trùng, làm sao khi tưới nước phải rút hết ngay. Theo tài liệu của Thái Lan và theo kinh nghiệm của nhiều nghệ nhân thì thành phần đất trồng cụ thể như sau:
·3 phần đất thịt hoăc đất phù sa.
·1phần vỏ đậu phộng đã ngâm mục.
·1phần vỏ xơ dừa đã ngâm mục
·2phần phân chuồng và một ít phân bánh dầu đã xay nhuyễn.
·2 phần tro trấu.
·1 phần phân hoá học và thuốc linh tinh rất ít, như các loại phân vôi, phân lân , thuốc trừ kiến.v.v…
 Tuy nhiên, tuỳ theo từng vùng có những nguyên liệu nào nhiều và rẻ tiền thì cũng có thể sử dụng để thay thế hoặc thêm bớt hoặc thay đổi thành phần cho thích  hợp, miễn sao đất trồng phải tơi xốp, rút nước nhanh và đủ chất dinh dưỡng cho cây phát triển là được. Các thành phần trên phải mua tập trung một chỗ, trộn cho đều, sau đó phơi nắng cho thật khô để diệt hết vi khuẩn, có thể trộn thêm thuốc trừ sâu và thuốc trừ kiến như  BaSudin 10H, nay đổi tên là Vibasu 10H dạng viên nhỏ. Sát trùng đất là rất cần thiết  nhằm tránh côn trùng , sùng, ốc, quấn chiếu, kiến đục khoét rễ cây làm ảnh hưởng tới sự phát triển của cây.
 2. Cách trồng:
Trước khi bỏ đất vào chậu thì cần phải bỏ ở dưới đáy chậu một lớp gạch đá nhỏ, nhưng phải lớn hơn lỗ chậu. Mục đích để thoát nước nhanh cho cây và khi chêm gạch nên lưu ý đừng để cho rễ cây sao này có thể chui vào  lỗ thoát nước, làm bít những lỗ này. Cho hỗn hợp đất và tro trấu đã chuẩn bị sẵn vào chậu đến cỡ khoảng nữa chậu rồi mới đặt cây Bát Tiên vào, canh cho ngay ngắn rồi mới tiếp tục bỏ thêm chất liệu trồng vào, đến cỡ khoảng 8/10 chậu là vừa, để khi tưới nước, nước không tràn ra bên ngoài chậu làm dơ bẩn. Mới trồng nên tưới nước cho vừa đủ ẩm, nên cắm một cây nọc nhỏ, cột giữ chặt thân cây lại không cho cây bị lay động . Cây mới trồng nên để vào chỗ râm mát, mỗi ngày chỉ nên tưới nước một lần, ít ngày sao cây sẽ mọc rễ, đâm chồi, ra lá mới chừng đó mới cần tưới phân tăng trưởng NPK 30-10-10, pha 10gam/10lít nước, cỡ từ 7 đến 10 ngày tưới một lần cây sẽ phát triển tươi tốt. Đến chừng nào cây mập mạp trưởng thành mới tưới thúc bổ sung thêm phân hoá học NPK 15-30-15, để kích thích cây ra hoa. 
 3. Sang chậu:
 Sang chậu cũng không khác mấy cách trồng. Sau khi trồng 1-2năm cây sẽ cao to lên nhưng dần dần ốm yếu, ít ra hoa , là do cây đã ăn hết phân, nên phải nhổ cả cây lên trồng lại hoặc sang qua chậu khác to hơn cho phù hợp với kích cỡ của cây hiện tại. Sang chậu hoặc trồng lại đều phải thay đất mới, có thể thay một phần hoặc thay hết. Muốn nhổ cây lên  phải lấy dao xoắn đào đất ở sát vành chậu bỏ bớt ra ngoài, cho đất trồng tách ra khỏi vành chậu, sao đó mới lắc  nhẹ từ từ nhổ cả cây lên, xem xét kỹ bộ rễ, có thể lấy tay bẻ bỏ bớt đất dính theo bộ rễ, cắt bỏ bớt rễ nào bị hư thối hoặc rễ nào đã khô chết, đồng thời cũng cắt tỉa bỏ bớt những nhánh nào quá già, hoặc nhánh nào mọc quá dày cho thông thoáng, những nhánh đã cắt đi này có thể đem giâm trồng lại được. Trồng cây trở lại vào chậu mới hay cũ cũng như cách trồng lúc trước,  cũng để vào chỗ râm mát một thời gian để cây sống mạnh rồi từ từ mới đem ra để ngoài nắng vài tiếng rồi mới đem vào,  cho cây quen chịu nắng dần rồi mới để hẳn ở ngoài nắng được,  nếu để ngoài nắng ngay thì cây sẽ bị cháy lá. 

4. Bón phân:
Mặc dầu khi trồng cây, trong đất đã có trộn phân rồi, thường là phân hữu cơ,  tuy nhiên khi cây sống lâu ngày đã ăn hết phân, cần phải bón bổ sung thêm hoặc bón thúc thêm để kích thích cây ra hoa bằng phân hoá học. Thành phần chính trong phân là :
Đạm (N): là chất dinh dưỡng căn bản nhất, cây cần rất nhiều chất đạm để tăng trưởng phát triển, đâm chồi,  nảy tược ra lá, giúp cây quang hợp tốt, mập mạp, xum xuê, cành nhánh to…
Lân (P): là loại phân quan trọng thứ hai, kích thích cây ra hoa mạnh, nhanh, ra trái to, chất lượng hạt chắc, tỷ lệ nảy mầm cao….
Kali (K): giúp cây hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng khác, ra chồi lá to, mập, cây cứng cáp, đứng thẳng, không đỗ ngã. Kali còn làm cho hoa to, màu sắc đẹp và hoa lâu tàn.
Ngày nay các nhà sản xuất phân đều chế biến, pha trộn nhiều thành phần hỗn hợp gọi là phân NPK cộng với phân vi lượng, với nhiều loại tên như: phân tăng trưởng, phân kích thích,… thường dùng để bón cho cây con có tỷ lệ đạm cao như : 
Loại phân NPK 30-10-10 : trong đó tỷ lệ phân đạm là 30, lân là10, kali là 10. Loại phân này có nhiều đạm, nên khi tưới cây sẽ tăng trưởng nhanh, ra nhiều chồi lá, cây mập mạp, thường dùng bón cho cây con hoặc cây mới trồng.
Loại phân NPK 15-30-15: đây là loại phân có tỷ lệ lân cao, giúp cây ra hoa nhanh, hoa to, dễ đậu trái.
Loại phân NPK 10-10-30 : có tỷ lệ Kali cao (30) dùng bón cho cây sắp và đã ra hoa để có được hoa to, hoa đẹp hoa lâu tàn, đồng thời giúp cho cây cứng cáp, không đỗ ngã …
Đó là 3 loại phân căn bản nhất: 
Loại 30-10-10 : cho cây con
Loại 15-30-15 : cho cây trưởng thành
Loại 10-10-30 : cho cây sắp ra hoa
Tuy nhiên các loại phân này cũng gây bất tiện cho người trồng, nghĩa là bắt buộc phải trồng cây cùng lúc cùng cỡ: khu nào trồng cây con thì phải trồng toàn cây con, khu nào trồng cây trưởng thành thì phải trồng toàn cây trưởng thành để thuận tiện cho vịêc tưới phân . Nếu vườn to thì mỗi loại cây có thể xếp thành nhóm riêng. Còn nếu vườn nhỏ trồng cây đủ cỡ cây con có cây trưởng thành có, cây ra hoa cũng có thì rất khó cho việc bón phân. Vì vậy các nhà sản xuất đưa ra loại phân thứ tư là NPK 20-20-20 trong đó tỷ lệ đạm, lân, kali đều là 20 được dùng để bón cho bất cứ giai đoạn nào của cây, cây sẽ luôn tươi tốt và ra hoa, hoa cũng đẹp và lâu tàn. Loại phân này thực sự tốt và thích hợp cho những người có vườn nhỏ.
      Lưu ý : cách bón phân cũng phải tính cho cân đối, nếu bón hoài một thứ phân sẽ làm dư lượng
- Dư đạm cây sẽ rất mập mạp, cành lá xanh tươi, lá to quá cỡ làm cho ngọn cây oằn xuống dễ đỗ ngã hoặc gãy, đồng thời thu hút nhiều sâu rầy, và cây dễ bị thối nhũng. Cây dư đạm phải ngưng tưới đạm, chỉ tưới lân và kali, cây sẽ cứng cáp trở lại.
- Khi thiếu đạm cây sẽ ốm yếu, lá nhỏ, không xanh tươi, có khi vàng úa, chậm lớn, ít hoặc không ra hoa, cây cằn cỗi. Gặp trường hợp này phải tưới loại phân có nhiều đạm, cây sẽ trở lại mập mạp.
§Khi dư lân, cây sẽ ra hoa sớm, cây sẽ mau già, cây cứng cáp khác thường, lá nhỏ… nên giảm tưới lân và bón thêm phân đạm.
- Khi thiếu lân lá xanh đậm, nhỏ, ngắn, hẹp và dày, trông bất thường, bộ rễ yếu không phát triển được làm cây cằn cỗi, hoa nhỏ, không đậu trái, nếu có thì hạt lép.
- Khi dư Kali thì lá chuyển sang màu vàng rồi cháy khô, cây ngưng phát triển, có khi héo rũ. Gặp trường hợp này cần ngưng tưới phân có nhiều kali mà tưới thêm phân đạm, cây sẽ trở lại bình thường.
- Khi thiếu Kali cây ngưng phát triển, lá già trở nên vàng rất nhanh và khô rụng, lá non không to, mọc chụm lại do không hấp thụ được các loại phân khác, cây èo uột rồi chết dần.
 5.  Tưới nước :
Cây Bát Tiên rất cần nước , trồng ở Thành phố Hồ Chí Minh, vào mùa nắng có thể tưới mỗi ngày một lần vào mùa mưa thì 2-3 ngày tưới một lần cũng được tuỳ theo đất trồng trong chậu khô nhiều hay ít nhưng tốt nhất là xem đất trên mặt chậu nếu khô thì tưới, mỗi lần tưới phải tưới cho đủ nước, để nước thấm sâu xuống đáy chậu, phải đục lỗ thoát nước để nước không ứ đọng gây thối rễ. Lưu ý “ cây mạnh phải tưới nhiều nước, cây ýêu tưới ít nước và cây mới trồng không nên tưới nước chỉ phun sương mà thôi”.
 6. Thông gió :
Cây Bát Tiên cũng cần phải thông gió, nên trồng trên cao càng tốt và phải xếp theo thứ tự cây cao theo cây cao, cây thấp theo cây thấp và khoảng cách phải hơi xa một tý cho gió vào được khắp vườn, không để cây nhỏ phải ở giữa các cây lớn. Tốt nhất nên làm kệ có nhiều tầng cao thấp tầng này cách tầng kia 20 cm là vừa.
 7.  Anh sáng :
Cây Bát Tiên cần rất nhiều ánh sáng mới tốt, hoa mới đẹp, nhưng cây mới trồng phải để nơi râm mát, bao giờ cây sống mạnh mới đem dần dần ra ngoài nắng, phải tập cho cây quen dần , cây mới chịu được nắng 100%. Mùa nắng cây thường ra hoa nhiều hơn mùa mưa.
 8. Nhiệt độ :
Cây Bát Tiên thính hợp được với nhiệt độ của môi trường tại TP Hồ Chí Minh, đa số cây trồng đều sống mạnh và siêng ra hoa.
 9. Phòng trừ bệnh 
Cây Bát Tiên rất dễ trồng và ít bị bệnh, chỉ có bệnh nấm mốc là cần phải phòng trị :
Bệnh nấm mốc :
Cây Bát Tiên qua tháng mưa nếu tưới nước nhiều quá nhất là về đêm, khi quá ẩm cây sẽ dễ bị mấm mốc. Nấm thường bám vào gốc cây quá già, có nhiều cây con nhỏ dài đặc ở dưới gốc, hoặc cỏ rác bám lấy gốc cây, cây quá ẩm nên sinh nấm. Nấm cũng thấy trên lá già bị che khuất không có ánh nắng mặt trời, nấm thường bám vào mặt dưới của lá, có khi đóng dầy và ăn lên đến mặt trên. Đối với trường hợp này nên làm vệ sinh, tỉa bỏ những nhánh dư thừa, nhỏ cỏ rác, cắt bỏ lá già. Nếu trường hợp bị nặng thì phun thuốc trừ nấm Aliette.
Bệnh đốm lá :
Đây là bệnh khá phổ biến vào mùa mưa. Trên lá bị đọng nước hoặc bị thương thường thấy có một đốm nhỏ, màu đen, rồi lan dần ra một đốm to, bên trong màu đen , bên ngoài màu vàng, rồi lan rộng ra cả nửa lá, lá đó sẽ vàng úa và rơi rụng. Trường hợp lá rụng thì không sao, nhưng khi lây qua lá khác thì phải phun thuốc trừ ngay nếu không thì bệnh sẽ lây lan cả cây rụng hết lá chỉ còn một chùm đọt trông rất xấu xí. Có thể phòng trừ bằng cách phun thuốc Aliette hoặc Benlat.
Phòng trừ sâu rầy:
Vườn trồng Bát Tiên phải thường xuyên làm vệ sinh, dọn sạch rác, nhổ sạch cỏ chung quanh. Nếu môi trường thoáng mát thì không có kiến dế sâu rầy phá hoại và mang mầm bệnh đến, nhất là nên cách ly cây bị bệnh, cũng như cây mới mua về phải phun thuốc xử lý trước khi trồng thì khỏi sợ sâu rầy và bệnh lây lan ra các cây khoẻ mạnh trong vườn.
Rệp sáp hay rầy bông :
Rệp này hay xuất hiện khi có kiến, rệp này bên ngoài được bao bọc bởi một lớp bông màu trắng như sáp không thấm nước. Rệp này hút ăn nhựa cây, tiết ra một chất ngọt nuôi lại kiến, cho nên rệp và kiến là hai côn trùng cộng sinh. Kiến tha rệp để lên ngọn cây, rệp hút nhựa cây ăn rồi tiết ra một chất ngọt gọi là sữa nuôi lại kiến, cho nên trên bất cứ cây nào hễ thấy có kiến bò lên là có rệp sáp. Rệp sáp rất khó trị do mình có bộ lông không thấm nước không thấm thuốc. Muốn trừ rệp này phải pha thuốc trừ sâu rầy với một chất bám dính như Lanyl sulfate. Có thể phòng trừ rệp sáp bằng Supracide, Sherpa hoặc Trebon. Phun thuốc kỹ ở nách lá, mặt dưới của lá. Nếu muốn trừ tận  gốc rệp sáp thì phải rắc thêm thuốc trừ kiến như Basudin chung quanh chậu trồng.
Bọ trĩ, sâu rầy khác :
Các loại này ít thấy ở cây Bát Tiên , ở sách của Thái Lan  có chụp ảnh con bọ Thrip và rệp đỏ Red Spider mite, phòng trị cũng dễ chỉ cần phun thuốc trừ sâu rầy như : Sherpa, Trebon, Bi 58 …..
Đối với cây Bát Tiên hiện nay chưa thấy xuất hiện bệnh gì khác, nhưng nên phòng bệnh hơn chữa bệnh. Nếu làm vệ sinh môi trường phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hàng tháng thì không sợ gì cả.

Theo Khoahocchonhanong.com.vn