Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Cây tự tưới nước để sống

Hầu hết những nhà làm vườn đều ao ước rằng cây cối do họ trồng có thể tự tưới nước để lớn lên. Một thời gian dài người ta cho rằng đó chỉ là giấc mơ hão, nhưng nay bằng một phát hiện khoa học hết sức kỳ thú, nhân loại đã biết rằng trên hành tinh của chúng ta có hẳn một loài cây có khả năng tự tưới nước để sinh trưởng. Đó là loài cây Đại Hoàng, sinh sống tại các vùng núi non khắc nghiệt ở hoang mạc Negev thuộc đất nước Israel.
Thông thường những loài cây sinh sống tại các vùng hoang mạc đều có những chiếc lá nhỏ bé nhằm ngăn chặn sự thoát hơi từ thân cây ra bề mặt không khí xung quanh. Nhưng với loài cây Đại Hoàng hoang mạc (tên khoa học là Rheum palaestinum), đặc tính sinh trưởng độc đáo hơn hẳn bởi nó có những chiếc lá khổng lồ. Với từ 01 đến 02 chiếc lá nằm xoay quanh trục thân, nhìn từ xa cây Đại Hoàng hoang mạc trông giống như một cây Cải Xoăn. Nhưng nhìn gần thì mỗi chiếc lá có kích thước đo được là 70 cm. Xét toàn diện, những chiếc lá của cây Đại Hoàng đóng vai trò như là một cỗ máy sinh học điều tiết đáng kể bề mặt của một dạng địa hình. Những chiếc lá của loài cây này có bề mặt dính như sáp, có tác dụng điều tiết các giọt nước luân chuyển đều khắp toàn bộ bề mặt của lá cây và từ đó thẩm thấu nước vào hệ rễ của cây.
Nhà khoa học Simcha Lev-Yadun và các đồng nghiệp của mình từ trường Đại học Haifa-Oranim ở Israel đã khám phá ra hiện tượng cây thực vật độc đáo này khi họ tình cờ nhìn thấy những chiếc lá có hình dáng kỳ lạ của nó. Sau một số lần thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và kết quả của các phân tích về sự tăng trưởng của cây Đại Hoàng, các nhà khoa học phát hiện rằng loài cây này có khả năng tích tụ một lượng nước đáng kể, tương tự như các loài thực vật sinh trưởng ở vùng Địa Trung Hải - nơi mà lượng mưa trung bình hàng năm đo được là 426 mm. Khi các nhà khoa học tiến hành thử trực tiếp tưới nước lên cây Đại Hoàng, họ nhận thấy rằng nước mà họ tưới tự chảy dọc theo các gân lá cây rồi xuống bề mặt đất xung quanh rễ cây sau đó nước tự ngấm vào lòng đất ở độ sâu đo được là 10 cm hoặc hơn.


                                                                                            Theo Khoa hoc va phat trien

Kỹ thuật trồng cây xương rồng bát tiên


Cây xương rồng Bát Tiên là cây nhiệt đới rất dễ trồng nhưng cũng cần phải biết một số đặc điểm về sinh thái về môi trường cũng như nơi xuất xứ của nó. Lúc ban đầu chúng ta phải làm sao tạo cho được môi trường khí hậu gần với môi trường khí hậu gốc, dần dần chúng ta mới tập cho nó quen dần thời tiết , khí hậu môi trường ở nơi chúng ta đang trồng, nghĩa là phải thuần hoá dần cây Bát Tiên theo khí hậu của Việt Nam, kế đến kỹ thuật trồng là quan trọng nhất, phải biết cho rõ một số điều kiện cần thiết để cho cây sống mạnh, siêng ra hoa, hoa lâu tàn…
1. Chậu trồng cây :
Cây Bát Tiên thường có thân nhỏ, trồng lâu năm mới phát triển, nhưng cây cũng không to lắm, nên không cần phải có chậu lớn. Thật ra có chậu nào trồng chậu đó cũng được, nhưng trồng làm cảnh cần phải có chậu đẹp như chậu Bát Tràng, chậu Minh Long, nó vừa bền lại vừa đẹp, bình thường ta trồng chậu bằng đất, khoảng 2-3 dm đường kính là được. Chậu đất nung vừa rẻ tiền vừa tiện lợi rất phù hợp trồng cây Bát Tiên. Những người có tiền, có thể đặt làm chậu men đề tên “Bát Tiên Phước Lộc Thọ Toàn “ với nhiều hoa văn và màu sắc rất đẹp. Nếu đơn giản thì dùng chậu nhựa cũng được
 Chất  trồng  
Là điều quan trọng thứ hai. Đất phải tơi xốp, không có đất sét, không có phèn, phải phơi khô để diệt hết vi khuẩn, hết côn trùng, làm sao khi tưới nước phải rút hết ngay. Theo tài liệu của Thái Lan và theo kinh nghiệm của nhiều nghệ nhân thì thành phần đất trồng cụ thể như sau:
·3 phần đất thịt hoăc đất phù sa.
·1phần vỏ đậu phộng đã ngâm mục.
·1phần vỏ xơ dừa đã ngâm mục
·2phần phân chuồng và một ít phân bánh dầu đã xay nhuyễn.
·2 phần tro trấu.
·1 phần phân hoá học và thuốc linh tinh rất ít, như các loại phân vôi, phân lân , thuốc trừ kiến.v.v…
 Tuy nhiên, tuỳ theo từng vùng có những nguyên liệu nào nhiều và rẻ tiền thì cũng có thể sử dụng để thay thế hoặc thêm bớt hoặc thay đổi thành phần cho thích  hợp, miễn sao đất trồng phải tơi xốp, rút nước nhanh và đủ chất dinh dưỡng cho cây phát triển là được. Các thành phần trên phải mua tập trung một chỗ, trộn cho đều, sau đó phơi nắng cho thật khô để diệt hết vi khuẩn, có thể trộn thêm thuốc trừ sâu và thuốc trừ kiến như  BaSudin 10H, nay đổi tên là Vibasu 10H dạng viên nhỏ. Sát trùng đất là rất cần thiết  nhằm tránh côn trùng , sùng, ốc, quấn chiếu, kiến đục khoét rễ cây làm ảnh hưởng tới sự phát triển của cây.
 2. Cách trồng:
Trước khi bỏ đất vào chậu thì cần phải bỏ ở dưới đáy chậu một lớp gạch đá nhỏ, nhưng phải lớn hơn lỗ chậu. Mục đích để thoát nước nhanh cho cây và khi chêm gạch nên lưu ý đừng để cho rễ cây sao này có thể chui vào  lỗ thoát nước, làm bít những lỗ này. Cho hỗn hợp đất và tro trấu đã chuẩn bị sẵn vào chậu đến cỡ khoảng nữa chậu rồi mới đặt cây Bát Tiên vào, canh cho ngay ngắn rồi mới tiếp tục bỏ thêm chất liệu trồng vào, đến cỡ khoảng 8/10 chậu là vừa, để khi tưới nước, nước không tràn ra bên ngoài chậu làm dơ bẩn. Mới trồng nên tưới nước cho vừa đủ ẩm, nên cắm một cây nọc nhỏ, cột giữ chặt thân cây lại không cho cây bị lay động . Cây mới trồng nên để vào chỗ râm mát, mỗi ngày chỉ nên tưới nước một lần, ít ngày sao cây sẽ mọc rễ, đâm chồi, ra lá mới chừng đó mới cần tưới phân tăng trưởng NPK 30-10-10, pha 10gam/10lít nước, cỡ từ 7 đến 10 ngày tưới một lần cây sẽ phát triển tươi tốt. Đến chừng nào cây mập mạp trưởng thành mới tưới thúc bổ sung thêm phân hoá học NPK 15-30-15, để kích thích cây ra hoa. 
 3. Sang chậu:
 Sang chậu cũng không khác mấy cách trồng. Sau khi trồng 1-2năm cây sẽ cao to lên nhưng dần dần ốm yếu, ít ra hoa , là do cây đã ăn hết phân, nên phải nhổ cả cây lên trồng lại hoặc sang qua chậu khác to hơn cho phù hợp với kích cỡ của cây hiện tại. Sang chậu hoặc trồng lại đều phải thay đất mới, có thể thay một phần hoặc thay hết. Muốn nhổ cây lên  phải lấy dao xoắn đào đất ở sát vành chậu bỏ bớt ra ngoài, cho đất trồng tách ra khỏi vành chậu, sao đó mới lắc  nhẹ từ từ nhổ cả cây lên, xem xét kỹ bộ rễ, có thể lấy tay bẻ bỏ bớt đất dính theo bộ rễ, cắt bỏ bớt rễ nào bị hư thối hoặc rễ nào đã khô chết, đồng thời cũng cắt tỉa bỏ bớt những nhánh nào quá già, hoặc nhánh nào mọc quá dày cho thông thoáng, những nhánh đã cắt đi này có thể đem giâm trồng lại được. Trồng cây trở lại vào chậu mới hay cũ cũng như cách trồng lúc trước,  cũng để vào chỗ râm mát một thời gian để cây sống mạnh rồi từ từ mới đem ra để ngoài nắng vài tiếng rồi mới đem vào,  cho cây quen chịu nắng dần rồi mới để hẳn ở ngoài nắng được,  nếu để ngoài nắng ngay thì cây sẽ bị cháy lá. 

4. Bón phân:
Mặc dầu khi trồng cây, trong đất đã có trộn phân rồi, thường là phân hữu cơ,  tuy nhiên khi cây sống lâu ngày đã ăn hết phân, cần phải bón bổ sung thêm hoặc bón thúc thêm để kích thích cây ra hoa bằng phân hoá học. Thành phần chính trong phân là :
Đạm (N): là chất dinh dưỡng căn bản nhất, cây cần rất nhiều chất đạm để tăng trưởng phát triển, đâm chồi,  nảy tược ra lá, giúp cây quang hợp tốt, mập mạp, xum xuê, cành nhánh to…
Lân (P): là loại phân quan trọng thứ hai, kích thích cây ra hoa mạnh, nhanh, ra trái to, chất lượng hạt chắc, tỷ lệ nảy mầm cao….
Kali (K): giúp cây hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng khác, ra chồi lá to, mập, cây cứng cáp, đứng thẳng, không đỗ ngã. Kali còn làm cho hoa to, màu sắc đẹp và hoa lâu tàn.
Ngày nay các nhà sản xuất phân đều chế biến, pha trộn nhiều thành phần hỗn hợp gọi là phân NPK cộng với phân vi lượng, với nhiều loại tên như: phân tăng trưởng, phân kích thích,… thường dùng để bón cho cây con có tỷ lệ đạm cao như : 
Loại phân NPK 30-10-10 : trong đó tỷ lệ phân đạm là 30, lân là10, kali là 10. Loại phân này có nhiều đạm, nên khi tưới cây sẽ tăng trưởng nhanh, ra nhiều chồi lá, cây mập mạp, thường dùng bón cho cây con hoặc cây mới trồng.
Loại phân NPK 15-30-15: đây là loại phân có tỷ lệ lân cao, giúp cây ra hoa nhanh, hoa to, dễ đậu trái.
Loại phân NPK 10-10-30 : có tỷ lệ Kali cao (30) dùng bón cho cây sắp và đã ra hoa để có được hoa to, hoa đẹp hoa lâu tàn, đồng thời giúp cho cây cứng cáp, không đỗ ngã …
Đó là 3 loại phân căn bản nhất: 
Loại 30-10-10 : cho cây con
Loại 15-30-15 : cho cây trưởng thành
Loại 10-10-30 : cho cây sắp ra hoa
Tuy nhiên các loại phân này cũng gây bất tiện cho người trồng, nghĩa là bắt buộc phải trồng cây cùng lúc cùng cỡ: khu nào trồng cây con thì phải trồng toàn cây con, khu nào trồng cây trưởng thành thì phải trồng toàn cây trưởng thành để thuận tiện cho vịêc tưới phân . Nếu vườn to thì mỗi loại cây có thể xếp thành nhóm riêng. Còn nếu vườn nhỏ trồng cây đủ cỡ cây con có cây trưởng thành có, cây ra hoa cũng có thì rất khó cho việc bón phân. Vì vậy các nhà sản xuất đưa ra loại phân thứ tư là NPK 20-20-20 trong đó tỷ lệ đạm, lân, kali đều là 20 được dùng để bón cho bất cứ giai đoạn nào của cây, cây sẽ luôn tươi tốt và ra hoa, hoa cũng đẹp và lâu tàn. Loại phân này thực sự tốt và thích hợp cho những người có vườn nhỏ.
      Lưu ý : cách bón phân cũng phải tính cho cân đối, nếu bón hoài một thứ phân sẽ làm dư lượng
- Dư đạm cây sẽ rất mập mạp, cành lá xanh tươi, lá to quá cỡ làm cho ngọn cây oằn xuống dễ đỗ ngã hoặc gãy, đồng thời thu hút nhiều sâu rầy, và cây dễ bị thối nhũng. Cây dư đạm phải ngưng tưới đạm, chỉ tưới lân và kali, cây sẽ cứng cáp trở lại.
- Khi thiếu đạm cây sẽ ốm yếu, lá nhỏ, không xanh tươi, có khi vàng úa, chậm lớn, ít hoặc không ra hoa, cây cằn cỗi. Gặp trường hợp này phải tưới loại phân có nhiều đạm, cây sẽ trở lại mập mạp.
§Khi dư lân, cây sẽ ra hoa sớm, cây sẽ mau già, cây cứng cáp khác thường, lá nhỏ… nên giảm tưới lân và bón thêm phân đạm.
- Khi thiếu lân lá xanh đậm, nhỏ, ngắn, hẹp và dày, trông bất thường, bộ rễ yếu không phát triển được làm cây cằn cỗi, hoa nhỏ, không đậu trái, nếu có thì hạt lép.
- Khi dư Kali thì lá chuyển sang màu vàng rồi cháy khô, cây ngưng phát triển, có khi héo rũ. Gặp trường hợp này cần ngưng tưới phân có nhiều kali mà tưới thêm phân đạm, cây sẽ trở lại bình thường.
- Khi thiếu Kali cây ngưng phát triển, lá già trở nên vàng rất nhanh và khô rụng, lá non không to, mọc chụm lại do không hấp thụ được các loại phân khác, cây èo uột rồi chết dần.
 5.  Tưới nước :
Cây Bát Tiên rất cần nước , trồng ở Thành phố Hồ Chí Minh, vào mùa nắng có thể tưới mỗi ngày một lần vào mùa mưa thì 2-3 ngày tưới một lần cũng được tuỳ theo đất trồng trong chậu khô nhiều hay ít nhưng tốt nhất là xem đất trên mặt chậu nếu khô thì tưới, mỗi lần tưới phải tưới cho đủ nước, để nước thấm sâu xuống đáy chậu, phải đục lỗ thoát nước để nước không ứ đọng gây thối rễ. Lưu ý “ cây mạnh phải tưới nhiều nước, cây ýêu tưới ít nước và cây mới trồng không nên tưới nước chỉ phun sương mà thôi”.
 6. Thông gió :
Cây Bát Tiên cũng cần phải thông gió, nên trồng trên cao càng tốt và phải xếp theo thứ tự cây cao theo cây cao, cây thấp theo cây thấp và khoảng cách phải hơi xa một tý cho gió vào được khắp vườn, không để cây nhỏ phải ở giữa các cây lớn. Tốt nhất nên làm kệ có nhiều tầng cao thấp tầng này cách tầng kia 20 cm là vừa.
 7.  Anh sáng :
Cây Bát Tiên cần rất nhiều ánh sáng mới tốt, hoa mới đẹp, nhưng cây mới trồng phải để nơi râm mát, bao giờ cây sống mạnh mới đem dần dần ra ngoài nắng, phải tập cho cây quen dần , cây mới chịu được nắng 100%. Mùa nắng cây thường ra hoa nhiều hơn mùa mưa.
 8. Nhiệt độ :
Cây Bát Tiên thính hợp được với nhiệt độ của môi trường tại TP Hồ Chí Minh, đa số cây trồng đều sống mạnh và siêng ra hoa.
 9. Phòng trừ bệnh 
Cây Bát Tiên rất dễ trồng và ít bị bệnh, chỉ có bệnh nấm mốc là cần phải phòng trị :
Bệnh nấm mốc :
Cây Bát Tiên qua tháng mưa nếu tưới nước nhiều quá nhất là về đêm, khi quá ẩm cây sẽ dễ bị mấm mốc. Nấm thường bám vào gốc cây quá già, có nhiều cây con nhỏ dài đặc ở dưới gốc, hoặc cỏ rác bám lấy gốc cây, cây quá ẩm nên sinh nấm. Nấm cũng thấy trên lá già bị che khuất không có ánh nắng mặt trời, nấm thường bám vào mặt dưới của lá, có khi đóng dầy và ăn lên đến mặt trên. Đối với trường hợp này nên làm vệ sinh, tỉa bỏ những nhánh dư thừa, nhỏ cỏ rác, cắt bỏ lá già. Nếu trường hợp bị nặng thì phun thuốc trừ nấm Aliette.
Bệnh đốm lá :
Đây là bệnh khá phổ biến vào mùa mưa. Trên lá bị đọng nước hoặc bị thương thường thấy có một đốm nhỏ, màu đen, rồi lan dần ra một đốm to, bên trong màu đen , bên ngoài màu vàng, rồi lan rộng ra cả nửa lá, lá đó sẽ vàng úa và rơi rụng. Trường hợp lá rụng thì không sao, nhưng khi lây qua lá khác thì phải phun thuốc trừ ngay nếu không thì bệnh sẽ lây lan cả cây rụng hết lá chỉ còn một chùm đọt trông rất xấu xí. Có thể phòng trừ bằng cách phun thuốc Aliette hoặc Benlat.
Phòng trừ sâu rầy:
Vườn trồng Bát Tiên phải thường xuyên làm vệ sinh, dọn sạch rác, nhổ sạch cỏ chung quanh. Nếu môi trường thoáng mát thì không có kiến dế sâu rầy phá hoại và mang mầm bệnh đến, nhất là nên cách ly cây bị bệnh, cũng như cây mới mua về phải phun thuốc xử lý trước khi trồng thì khỏi sợ sâu rầy và bệnh lây lan ra các cây khoẻ mạnh trong vườn.
Rệp sáp hay rầy bông :
Rệp này hay xuất hiện khi có kiến, rệp này bên ngoài được bao bọc bởi một lớp bông màu trắng như sáp không thấm nước. Rệp này hút ăn nhựa cây, tiết ra một chất ngọt nuôi lại kiến, cho nên rệp và kiến là hai côn trùng cộng sinh. Kiến tha rệp để lên ngọn cây, rệp hút nhựa cây ăn rồi tiết ra một chất ngọt gọi là sữa nuôi lại kiến, cho nên trên bất cứ cây nào hễ thấy có kiến bò lên là có rệp sáp. Rệp sáp rất khó trị do mình có bộ lông không thấm nước không thấm thuốc. Muốn trừ rệp này phải pha thuốc trừ sâu rầy với một chất bám dính như Lanyl sulfate. Có thể phòng trừ rệp sáp bằng Supracide, Sherpa hoặc Trebon. Phun thuốc kỹ ở nách lá, mặt dưới của lá. Nếu muốn trừ tận  gốc rệp sáp thì phải rắc thêm thuốc trừ kiến như Basudin chung quanh chậu trồng.
Bọ trĩ, sâu rầy khác :
Các loại này ít thấy ở cây Bát Tiên , ở sách của Thái Lan  có chụp ảnh con bọ Thrip và rệp đỏ Red Spider mite, phòng trị cũng dễ chỉ cần phun thuốc trừ sâu rầy như : Sherpa, Trebon, Bi 58 …..
Đối với cây Bát Tiên hiện nay chưa thấy xuất hiện bệnh gì khác, nhưng nên phòng bệnh hơn chữa bệnh. Nếu làm vệ sinh môi trường phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hàng tháng thì không sợ gì cả.

Theo Khoahocchonhanong.com.vn

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

Hàng loạt cây cảnh chứa chất độc chết người


Việc trồng vài cây cảnh nhỏ trong nhà hoặc nơi làm việc là sở thích của người Sài Gòn trong nhiều năm nay. Tuy nhiên, các nhà sinh học cảnh báo trong số đó có nhiều loại cây chứa độc tố gây chết người nếu ăn phải.


Tiến sĩ sinh học Bùi Văn Lệ, trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM cho biết, gia đình có trẻ nhỏ tốt nhất không nên trồng các loại hoa, cây cảnh. Vì có thể loại hoa cây cảnh đó cực kỳ độc mà bố mẹ không biết.


Ông nói: “Tốt nhất, các bố mẹ, ông bà, người trông trẻ nên cẩn thận, tuyệt đối không để các bé nghịch, cầm hay cho bất cứ loại lá cây nào vào miệng. Hơn thế, bé có thể nghịch đất trồng trong chậu rất bẩn, dễ nhiễm giun sán. Những loại hoa cây cảnh không chỉ độc với bé mà còn độc với cả người lớn”. 
Sau đây là danh sách 22 loại cây cảnh có độc do Tiến sĩ Lệ cung cấp, đều được trồng phổ biến ở Việt Nam:
1. Trúc đào: Tên khoa học là Nerium oleander. Toàn thân Trúc đào đều có chất cực độc Oleandrin, Neriin. Người ta có thể bị ngộ độc do chạm vào cây hoặc nuốt phải. Nhẹ thì gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, rối loạn nhịp tim, nặng thì có thể mất kiểm soát cơ thể, hôn mê. Nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.


Việc phơi khô hoặc nấu chín cũng không làm mất tính độc của loài thực vật này. Không trồng trúc đào ở cạnh nguồn nước (giếng ăn, bể nước...) vì lá, hoa trúc đào rụng xuống làm nhiễm độc nước. Trên thế giới đã ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi bị ngộ độc do mủ hoa cây trúc đào.


Hiện nay, trúc đào đang được trồng rất nhiều ở trên các tuyến phố, vườn hoa, nơi công cộng.
2. Thơm ổi: Tên khoa học là Lantana spp. Quả có chất độc Lantanin alkaloid Hoặc lantadene A gây bỏng rát đường ruột, giãn cơ, rối loạn tuần hoàn máu và có thể dẫn đến tử vong.
3. Ngoắt nghẻo: Tên khoa học là Gloriosa superba. Củ và hạt cây có chất kịch độc Colchicine và một số alkaloid khác mà nếu ăn vào sẽ gây tê lưỡi, làm cho cơ thể mất cảm giác, nặng thì hôn mê và nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.
4. Cà độc dược, một số loại cà kiểng, hoa Lưu ly: Tên khoa học là Datura metel, thuộc họ cà Solanaceae. Tiếp xúc qua da với bất kì vị trí nào trên cây đều có thể gây nổi mẩn đỏ, ngứa, chóng mặt, nhức đầu, thấy ảo giác, hôn mê và có thể gây mù mắt hoặc tử vong.


Cũng chính nhờ độc chất có trong hoa lá thân cây, mà cà độc dược còn được dùng làm thuốc, nếu dùng với liều khống chế, có thể chữa ho hen, say sóng, trị mụn nhọt.
5. Đỗ Quyên: Tên khoa học là Rhododendron occidentale. Tất cả các bộ phận của cây đều có chất độc Andromedotoxin và Arbutin glucoside. Người bị ngộ độc do loại cây này thường có triệu chứng buồn nôn, chảy nước dãi, ói mửa, uể oải, chóng mặt, khó thở, mất cân bằng. Một lượng 100 đến 225 gram lá Đỗ Quyên đủ để gây ngộ độc nặng cho trẻ em 25 kg.
6. Thiên điểu: Tên khoa học là Strelitzia reginae. Hoa và hạt của cây có các chất gây ngộ độc đường ruột. Tiếp xúc hoặc ăn hoa, hạt sẽ khiến buồn nôn, tiêu chảy, chóng mặt.
7. Môn kiểng: Tên khoa học là Caladium hortulanum. Tất cả các bộ phận của cây đều có chất độc Calcium oxalate và Asparagine Khi ăn phải sẽ dẫn đến nguy cơ bị bỏng, ngứa rát vùng miệng, niêm mạc ruột.
8. Hoa loa kèn Arum/ Ý lan: Tên khoa học là Zantedeschia aethiopica. Lá và củ cây đều có chất độc đường ruột Calcium oxalate. Khi ăn phải loại thực vật này có thể bị ói mửa, bỏng rát bề mặt niêm mạc.
9. Xương rồng bát tiên: Tên khoa học là Euphorbia milii splendens. Nhựa cây gây bỏng rát da khi tiếp xúc.
10. Anh Thảo: Tên khoa học là Cyclamen persicum. Củ cây có chất độc Alkaloids gây khó tiêu, tiêu chảy, ói mửa nếu ăn phải.
11. Chuỗi ngọc: Tên khoa học là Sedum morganianum: Tất cả bộ phận có chất Glucosides gây mệt mỏi, khó thở, tiêu chảy nếu ăn phải.
12. Môn lá lớn: Tên khoa học là Colocasia spp. Tất cả các bộ phận trên cây đều chứa chất Calcium oxalate Asparagine gây ngứa và bỏng rát cổ họng, tiêu chảy nếu ăn phải.
13. Hồng môn: Tên khoa học là Anthurium spp. Tất cả các bộ phận của cây đều có độc tố Calcium oxalate và Asparagine Việc ăn phải loại thực vật này có thể gây bỏng rát vùng họng, dạ dày và ruột.
14. Dạ lan: tên khoa học là Hyacinth orientalis. Củ Dạ Lan có độc tố Alkaloid gây vọp bẻ, đầy bụng, buồn nôn, tiêu chảy nếu ăn phải.
15. Cẩm tú cầu: Tên khoa học là Hydrangea macrophylla. Lá và củ cây có chất Hydragin-cyanogenic glycoside gây tiêu chảy, ói mửa, thở gấp.
16. Xương rồng kiểng: Tên khoa học là Euphorbia trigona. Nhựa cây Có thể gây bỏng da và mắt nếu tiếp xúc, gây tê cứng lưỡi và miệng, nôn mửa nếu ăn phải.
17. Thủy tiên: Tên khoa học là Narcissus spp. Củ của cây có chất Alkaloids gây chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, run rẩy toàn thân, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong khi ăn phải.
18. Một số loại trầu (Trầu bà, Trầu ông,...): Có tên khoa học là Philodendron spp. Lá và thân cây có chất độc Calcium oxalate gây tiêu chảy, buồn nôn, bỏng rát niêm mạc miệng khi ăn phải.
19. Tulip: Tên khoa học là Tulipa spp. Củ cây có chất Tulipene, ăn phải sẽ gây chóng mặt, buồn nôn.
20. Lục bình: Tên khoa học là Eichhornia crassipes. Tất cả các bộ phận của cây đều có độc gây chứng ăn không tiêu, ói mửa trên chó, mèo và một số vật nuôi khác khi ăn phải.
21. Huệ Lili: Tên khoa học là Hippeastrum puniceum. Củ cây có chất độc Lycorine gây tiêu chảy, buồn nôn, ói mửa khi ăn phải. Nhựa cây có thể gây nôn mửa nếu ăn phải. Tránh tiếp xúc trực tiếp với da vì có thể gây bỏng rát, ngứa...
22. Ngô đồng: Tên khoa học là Jatropha podagrica. Toàn thân cây, đặc biệt là củ và hạt có chứa chất độc Curcin gây chóng mặt và buồn nôn nếu ăn phải.
Theo VnExpress

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

Pháp lam - sắc màu của Huế xưa


NST Nguyễn Tin bên bộ sưu tập pháp lam Huế
Nhà nước phong kiến thời Nguyễn sau gần 150 năm tồn tại đã để lại trên đất Thần kinh một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ. Trong đó, không thể không nhắc đến những sản phẩm pháp lam là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Tuy nhiên, đã bị thất truyền về kỹ thuật chế tác từ hơn một thế kỷ qua và hiện nay ngành kỹ nghệ này đang được nỗ lực phục chế.

Pháp lam là một thuật ngữ để gọi tên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ được chế tác bằng cách tráng men nhiều màu lên bề mặt một số kim loại quý như vàng, bạc, đồng... Pháp lam xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng đầu thế kỷ XIX. Pháp lam được xem là một báu vật quí hiếm, sang trọng dùng để trang trí trong cung điện, tôn miếu uy nghiêm. Do chỉ được sử dụng trong hoàng cung Huế nên thuật ngữ pháp lam Huế dùng để chỉ cho kỹ thuật chế tác pháp lam ở Việt Nam. Pháp lam Huế có mặt ở các triều đại vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, dùng để trang trí ở những nơi như điện Thái Hòa (Đại nội Huế), điện Hòa Khiêm (làng Tự Đức), điện Biểu Đức (làng Thiệu Trị) hoặc làm đồ dùng trong cung như: bình hoa, bát, tô, ly, khay, đĩa, chum, hộp trầu... hay đồ tế lễ, thờ tự như: lư trầm, bát hương, quả bồng... Ngoài ra, pháp lam còn được dùng để trang trí các họa tiết hoa văn, bát bửu, thơ văn chữ Hán... trên các công trình kiến trúc ở cố đô Huế.

Để tìm hiểu thêm về pháp lam Huế, chúng tôi tìm đến nhà sưu tập (NST) cổ vật Nguyễn Tin, hội viên Hội Cổ vật TPHCM. Trong căn nhà ở đường Lê Đức Thọ, quận Gò Vấp, bên cạnh các vật sưu tập quý hiếm khác, NST Nguyễn Tin đã dành một vị trí trang trọng để trưng bày bộ sưu tập pháp lam Huế. Đó là các sản phẩm pháp lam sử dụng trong cung đình Huế và các dụng cụ thờ phụng, nổi bật trong bộ sưu tập là các bình hoa, chậu trồng cây cành vàng lá ngọc, quả bồng, chén đựng nước cúng hiệu đề Minh Mạng... Điều đáng lưu ý nhất là hầu hết các sản phẩm pháp lam mà anh sưu tập đều được mua tại Pháp (Ông Tin có khoảng thời gian du học tại Pháp - NV).

Theo nhận xét của ông Tin, pháp lam bao gồm 4 loại: Kháp ti pháp lam, sản phẩm chế tác bằng cách dùng những sợi tơ đồng mảnh và nhỏ kết thành các họa tiết gắn lên cốt bằng đồng, sau đó đổ đầy men pháp lam nhiều màu lên các ô trang trí rồi đưa vào nung nhiều lần, loại pháp lam này thường thấy ở Trung Quốc. Tam thai pháp lam, phương pháp chế tác giống Kháp ti pháp lam, chỉ khác chỗ hoa văn tô điểm bên ngoài. Thấu minh pháp lam, chỉ tráng men pháp lam trong suốt lên cốt bằng vàng, bạc, đồng sau khi được chạm nổi hay khắc chìm, rồi đem nung, loại sản phẩm pháp lam này được áp dụng nhiều ở Nhật Bản và các nước phương Tây. Khác với Trung Quốc hay Nhật Bản, pháp lam Huế được chế tác theo phong cách Họa pháp lam, là kỹ thuật dùng men pháp lam một hay nhiều màu vẽ các họa tiết lên cốt kim loại, sau đó đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao. Đây cũng là nét đặc trưng của pháp lam Huế.

Theo các tài liệu, thư tịch và hiện vật pháp lam ở Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế, cũng như trên các công trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy, kỹ nghệ chế tác pháp lam thời bấy giờ được các nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ. Để thực hiện công việc lớn lao này, nhiều nghệ nhân được cử đi học nghề ở Trung Quốc. Có thể nói, sự xuất hiện của pháp lam Huế là dấu ấn buổi thịnh thời của triều Nguyễn. Thế nhưng, từ nửa sau thế kỷ XIX do chiến tranh xảy ra, kinh tế sa sút dẫn đến thất truyền nền kỹ nghệ đặc sắc này và từ đó pháp lam Huế không còn được quan tâm như trước.

Những năm gần đây, khi đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập thì việc phục hồi, tôn vinh các di sản văn hóa - nghệ thuật dân tộc được thể hiện rất rõ rệt. Và, pháp lam Huế hơn một thế kỷ thất truyền nay đã trở lại nhờ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đất Việt, sau nhiều năm nghiên cứu và thử nghiệm kỹ thuật chế tác pháp lam Huế cổ. Pháp lam Huế ngày nay không chỉ dừng lại ở việc chế tác loại hình pháp lam họa truyền thống nhằm phục vụ cho việc trùng tu, bảo tồn các công trình kiến trúc thời Nguyễn mà còn đang nỗ lực kết hợp pháp lam với các ngành mỹ nghệ khác như chạm, khắc nâng sản phẩm pháp lam lên thành những tác phẩm vừa có giá trị về mặt hội họa vừa có hàm lượng nghệ thuật cao. Theo ông Tin, ngày nay pháp lam Huế được chế tác theo phương pháp truyền thống kết hợp với hiện đại.

Trên đất Việt qua bàn tay thợ Việt, những sản phẩm pháp lam Huế mang vẻ đẹp phóng khoáng, bố cục cũng thoáng hơn, phong cách thể hiện ngày càng phong phú về màu sắc, đa dạng về chủng loại. Các họa tiết hoa văn đều gần gũi với thiên nhiên và con người Việt Nam. Dẫu pháp lam Huế xưa chỉ xuất hiện trong hơn một thế kỷ qua, nhưng ngày nay nghệ thuật chế tác pháp lam Huế đang hồi sinh, nơi mà mỗi sản phẩm đều là biểu tượng của nền văn hóa dân tộc. Mặt khác, ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, các phương tiện kỹ thuật, máy móc hiện đại được đưa vào sản xuất, nghề làm mỹ nghệ pháp lam đã dần cải tiến, làm phong phú thêm nghề làm pháp lam cổ truyền thuở nào và những sản phẩm pháp lam Huế xưa dần lưu vào quá khứ, nhưng qua bộ sưu tập pháp lam Huế của Nguyễn Tin đã phần nào nói lên giá trị văn hóa của một thời vang bóng của đất kinh đô xưa của nước Việt...

Pháp lam được dùng trang trí trên cổng Ngọ môn kinh đô Huế xưa
Chén đựng nước - pháp lam hiệu đề thời Minh Mạng
Quả bồng - pháp lam thời Thiệu Trị
Huy hiệu - pháp lam thời Tự Đức
Quán tảy (chậu rửa tay) - pháp lam thời Tự Đức



Theo Công an TPHCM

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

TẠI SAO HOA LẠI ĐẸP?



Vào những năm 1930, hoạ sĩ người Mỹ Georgia O’Keefe từng viết: “Kinh nghiệm của tôi sẽ có gì nếu hoa không có màu sắc?”. O’Keefe là họa sĩ rất nổi tiếng với những bức tranh sơn dầu cận cảnh về cánh hoa và nhị hoa đầy màu sắc sống động.
Mọi người yêu hoa vì màu sắc, bố cục, kiểu dáng và hương thơm của chúng. Nhưng liệu có phải việc làm hài lòng đôi mắt đam mê của con người chính là mục đích của tự nhiên nằm trong kiểu dáng mỗi loài hoa?
Claude de Pamphilis, nhà sinh học về tiến hoá thực vật tại bang Pennsylvania đồng thời là nhà nghiên cứu chính của Dự án hệ gen thực vật, nhấn mạnh quyền ưu tiên hàng đầu của thực vật chính là sự sinh tồn. Pamphilis nói: “Vẻ đẹp của hoa là sản phẩm phụ giúp chúng lôi cuốn côn trùng thụ phấn. Những nét đẹp mà chúng ta ngưỡng mộ ở hoa là chỉ dẫn cho côn trùng thụ phấn, giúp nói với chúng rằng có những phần thưởng dành cho chúng trên bông hoa”.
Mùi hương, màu sắc và kích cỡ bông hoa tất cả đều thu hút rất nhiều loài côn trùng thụ phấn, trong đó có hàng ngàn loài ong mật. ong bắp cày, bướm, sâu bướm và bọ cánh cứng. Bên cạnh đó còn có một số loài động vật có xương sống như chim và dơi.
Côn trùng biết bay bao gồm rất nhiều loài thụ phấn. Chúng đậu trên những bông hoa để ăn mật và thu nhặt phấn hoa. Rồi chúng phân phát phấn hoa bằng cách ghé thăm những bông hoa khác. Theo Pamphilis, côn trùng thụ phấn đang cung cấp cho thực vật một dịch vụ tối quan trọng mà thiếu dịch vụ đó chúng không thể sinh sản”.
Để giúp côn trùng tìm được mật hoa và phấn hoa, rất nhiều cây có hoa đã tiến hoá để sở hữu những màu bắt mắt (chim ruồi và bướm vốn thích hoa màu đỏ và vàng). Một số dấu hiệu chỉ đường đến chỗ mật hoa chỉ có thể thấy được dưới tia cực tím - một quang phổ ánh sáng loài ong có thể nhìn được còn con người thì không. Từ đôi mắt của loài ong, những màu sắc và hoạ tiết trên cánh hoa dưới tia UV đã thông báo cho chúng nơi cất giấu mật hoa và phấn hoa.
Ong & hoa mai
(Photo: Comaihoa)

Hoa văn trên những bông hoa mà cả con người và động vật thụ phấn có thể thấy được (ví dụ như những đường kẻ sọc trên cánh hoa) đóng vai trò như một hệ thống kiểm soát giao thông hàng không cho những chú ong, giúp hướng chúng đến chỗ phấn hoa và mật hoa nằm ở trung tâm. Nhờ có đặc điểm đồng tiến hoá giữa hai loài mà ong có thể ghé thăm nhiều loại hoa và thụ phấn cho một số lượng lớn thực vật.
Một số loài hoa, ví dụ như cây dẻ ngựa hoặc hướng dương, lại biến đổi màu sắc dưới quang phổ tia cực tím trong suốt vòng đời. Như Phamphilis giải thích, đối với động vật thụ phấn, những thay đổi này là những dấu hiệu thấy được cho chúng biết bông hoa đang có nhiều hay đang thiếu mật. Những dấu hiệu đó sẽ thông báo rằng: “Hãy đến thăm tôi” hoặc “Đừng làm phiền”.
Để tìm hiểu sâu hơn về sự tiến hoá của mối quan hệ giữa động vật thụ phấn và hoa, Pamphilis và đồng nghiệp đã sử dụng phương pháp lập trật tự ADN đi sâu vào lịch sử tiến hoá các loài hoa. “Những gì chúng tôi đang cố làm là suy luận theo một cách chi tiết, dựa trên cơ sở di truyền về những đặc điểm của những thực vật có hoa đầu tiên”.
Theo những hoá thạch thu được, những bông hoa đầu tiên nở rộ vào khoảng 125 đến 140 triệu năm trước. Pamphilis đã đặt ra câu hỏi: “Tại sao chỉ với những bông hoa đầu tiên đó mà sinh ra hàng ngàn giống hoa khác nhau chúng ta thấy trong tự nhiên bây giờ? Có thể bản đồ gen sẽ giải thích được phần mở đầu của câu chuyện này”.
Trong khi hầu hết các loài hoa đối với con người đều đẹp và có hương thơm dễ chịu, một số loài lại phát triển những phương thức dẫn dụ động vật thụ phấn của chúng theo cái cách mà con người không thể chịu đựng được. Loài Rafflesia sinh sống ở Indonesia chẳng hạn, theo các chuyên gia thì đây là loài hoa lớn nhất thế giới, nó to đến tận 3 fit. Ngoài cái dáng thẳng đứng của nó, hoa Rafflesia còn nổi bật với mùi hương giống như mùi thịt thối. Mặc dù có cái mùi xác chết kinh khủng, nhưng hoa Rafflesia arnoldii lại có sức lôi cuốn không thể cưỡng lại được với những con ruồi - loài côn trùng thụ phấn đặc biệt của chúng.
Có thể chúng ta sẽ phải băn khoăn tại sao Georgia O’Keefe, người tạo ra nghệ thuật từ những bông hoa xinh xắn và sọ động vật bằng thạch cao, lại có thể vẽ được những bức tranh về loài hoa xấu xí nhưng thật khó quên này.

Trà Mi (Theo Physorg)

Trái đất đang bị hủy diệt vì con người ăn nhiều thịt


Dưới đây là 8 lý do khiến cho trái đất bị hủy diệt vì thói quen ăn thịt của chúng ta

1. Đốt nóng hành tinh

Thế giới tiêu thụ khoảng 230 triệu tấn thịt động vật mỗi năm – lớn gấp đôi 30 năm trước. Thường chúng ta chăn nuôi bốn loại - gà, bò, cừu và lợn - tất cả đều đòi hỏi số lượng lớn thức ăn và nước, thải ra khí metan và những loại khí khác làm khí hậu nóng lên. Chúng cũng sản xuất cả núi chất thải hữu cơ gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước…

Thế giới tiêu thụ khoảng 230 triệu tấn thịt động vật mỗi năm – lớn gấp đôi 30 năm trước.
Các tác giả bản tường trình “cái bóng dài của đàn bò” đã tính toán không chỉ số lượng khí metan do đàn bò thải ra, mà cả ác loại khí bốc ra từ chất thải của chúng, số nhiên liệu tiêu hao khi vận chuyển thịt đến điểm tiêu thụ, số điện tiêu thụ bảo quản thịt đông lạnh, lượng gas sử dụng trong khâu chế biến, năng lượng tiêu hao để làm đất nuôi trồng thức ăn cho gia súc, và thậm chí cả nước ngọt cần thiết cho đàn bò. Và kết quả là một con số lớn hơn tổng khí thải của xe hơi, máy bay và các phương tiện vận tải cơ giới gộp lại.
Các nhà khoa học thuộc Ngân hàng Thế giới đã tăng con số trên tới 51% sau khi tính cả nhiều nhân tố khác, như các khoản chi phí sản xuất phân bón cần thiết cho nuôi trồng thức ăn chăn nuôi hoặc kim loại để đóng tầu vận chuyển gia súc.
Sự tính toán chính xác ảnh hưởng của chăn nuôi đối với môi trường là cơn ác mộng toán học. Và dù tính chi li hay xuê xoa, dù chỉ là 5-10%, hoặc lên tới 50% lượng khí làm Trái đất nóng lên, thì ngành chăn nuôi vẫn thuộc loại hình hoạt động làm hủy hoại môi trường lớn nhất.

2. Ngốn quá nhiều đất đai

Mức gia tăng dân số dự báo 3 tỷ người, mức tiêu thụ thịt toàn cầu tăng gấp đôi trong vòng 40 năm tới đang dẫn chúng ta đến cuộc khủng hoảng dinh dưỡng nghiêm trọng. Việc sản xuất thực phẩm chiếm dụng diện tích ngày càng lớn trên Trái đất. Nhu cầu của con người ăn chay cần không gian nhỏ hơn nhiều so với người ăn thịt. Một gia đình trung bình tám khẩu ăn chay ở Banglades chỉ cần diện tích canh tác 1 ha, trong khi một người Mỹ tiêu thụ trung bình 120 kg thịt/năm cần tới 20 ha đất đai!
Gần 30% địa bàn Trái đất không bị đóng băng được sử dụng để chăn nuôi bò hoặc trồng cỏ làm thức ăn cho chúng. Trong khi đàn bò ăn phần lớn các sản phẩm canh tác thì trên hành tinh mỗi ngày có hàng tỷ người đói ăn! Các nhà khoa học thuộc Đại học Corrnell (Mỹ) đã tính được rằng năm 1997 diện tích trồng rau, lúa mỳ, hoa quả, khoai tây và đậu nành trên toàn nước Mỹ chỉ chiếm diện tích 13 triệu hécta. Trong khi diện tích sử dụng chăn nuôi bò lên tới 302 triệu héc ta. Rắc rối ẩn giấu ở chỗ: hiệu suất “chế biến” thức ăn thành sản phẩm của gia súc nuôi đại trà quá thấp. Trong khi để sản xuất 1 kg thịt, gia cầm chỉ cần trung bình 3,4 kg thức ăn, nhưng để có 1 kg thịt lợn nuôi phải cần tới 8,4 kg thức ăn.
Các nhà khoa học cũng tính được, nếu sử dụng số ngũ cốc phương Tây chăn nuôi gia súc để chế biến thức ăn cho con người, ít nhất có thể nuôi sống số nhân loại lớn hơn hai lần so với hiện nay.
Súc vật hiện được chăn nuôi tại các quốc gia châu Âu duy nhất nhằm mục đích giết mổ lấy thịt trong thời gian ngắn nhất có thể. Trong khi tại các vùng lãnh thổ nghèo, đặc biệt tại những vùng khô cằn, động vật có sừng đóng vai trò thành phần trung tâm của cuộc sống và nền văn hóa, thường là nguồn sống và tài sản đối với hàng triệu dân chăn thả. Dân du mục quanh năm vận động theo đàn súc vật trở thành nền tảng nền kinh tế nhiều quốc gia châu Phi. Theo Viện Môi trường và Phát triển Quốc tế, hình thức nuôi thả động vật có sức và móng này thân thiện hơn với môi trường và năng suất cao hơn so với phương pháp chăn nuôi công nghiệp tại Australia hoặc Mỹ.

3. Tiêu thụ quá nhiều nước ngọt

Khi ăn món bít tết bò hay món gà rán, chúng ta đồng thời đã sử dụng lượng nước không nhỏ mà những con vật từng tiêu thụ để tồn tại. GS John Robbin đã tính được, để sản xuất 1 kg khoai tây, lúa mỳ, ngô và gạo cần tương ứng 120, 216, 336 và 450 lít nước. Tuy nhiên, để sản xuất được 1kg thịt bò, cần có tới trên 18 ngàn lít nước. Để có một lít sữa bò – cần 1.000 lít nước ngọt.
Lợn cũng thuộc loại động vật tiêu thụ nhiều nước nhất. Một trang trại chăn nuôi cỡ trung bình (đàn lợn 80 ngàn con) ở Mỹ mỗi năm tiêu tốn 337,5 triệu lít nước. Những trang trại lớn với đàn lợn cỡ triệu con sử dụng lượng nước sinh hoạt tương đương một thành phổ.
Thực tế ngành chăn nuôi gia súc hiện sử dụng tới 70% dự trữ nước ngọt dành cho con người. Bởi thế nhu cầu tiêu thụ thịt gia tăng, nước ngọt cho nhu cầu sản xuất lẫn sinh hoạt sẽ cạn kiệt. Các quốc gia giàu có, nhưng thiếu nước ngọt như A Rập Saudi, Libia, các nước vùng vịnh Persja hay CH Nam Phi khẳng định, cần sản xuất thực phẩm tại những quốc gia nghèo hơn, để bảo vệ dự trữ nước ngọt của chính mình. Cũng vì thế mà họ đã mua hoặc thuê hàng triệu ha đất ở Etiopia và nhiều quốc gia khác. Bằng cách này họ tiết kiệm nước ngọt tại chính quốc.
Việc chặt phá rừng trên quy mô toàn cầu kéo dài hơn 30 năm không nhằm mục đích khai thác gỗ, mà chủ yếu lấy diện tích chăn nuôi bò, trồng đậu nành và trồng cọ lấy dầu.
Trong bản tường trình “Thực phẩm của chúng ta sống bằng gì?” mới nhất của mình, tổ chức môi trường Friends of the Earth đánh giá, mỗi năm thế giới tàn phá khoảng 6 triệu hecta rừng (tương đương diện tích nước Litva) vì mục đích phát triển trồng trọt và chăn nuôi.

4. Làm ô nhiễm đất đai

Nền nông nghiệp và chăn nuôi trên phạm vi công nghiệp nắm địa vị chi phối tại các quốc gia phương Tây. Một trang trại đơn lẻ có thể thải ra lượng chất thải tương đương một thành phố. Trung bình, để cung cấp một kg thịt bò cho chúng ta ăn, con bò đã thải ra môi trưởng tối thiểu 40kg chất thải rắn. Nếu hàng ngàn con bò nuôi trên diện tích hạn chế, hiệu ứng sẽ thật khủng khiếp. Phân động vật thường được đổ vào những bể chứa khổng lồ - công trình thường bị vỡ hoặc rò rỉ, làm ô nhiễm dự trữ nước ngầm và các dòng sông bởi lượng nito, fosfo và nhiều chất độc hại khác.
Hàng năm có hàng chục ngàn kilomet sông ngòi tại Mỹ, châu Âu và châu Á bị ô nhiễm vì chăn nuôi. Chỉ một vết nứt bể chứa dò rỉ hàng triệu lít chất thải từ trại nuôi lợn lớn ở Bắc Carolina(Mỹ) năm 1995 đã giết chết đàn cá hàng triệu con và làm tê liệt trang trại nuôi tôm diện tích 364 ngàn ha mặt nước biển.

5. Ô nhiễm các Đại Dương

Vụ tràn dầu ở vịnh Mexico giữa năm 2010 không phải là thảm họa môi trường duy nhất tại vùng lãnh thổ này. Đã từ lâu, 13.000-20.000 km2 diện tích mặt biển và cửa sông Mississipi đã bị coi là “vùng chết” vì phân động vật, các nguyên tố nito, phân hóa học và những thứ độc hại khác thải ra từ các trang trại chăn nuôi. Các chất ô nhiễm đã lấy hết nguồn oxy của cơ thể sống khác.

Cửa sông Mississipi đã bị coi là “vùng chết” vì phân động vật và những thứ độc hại
khác thải ra từ các trang trại chăn nuôi.
Từ bờ biển Bắc Âu đến bờ biển Đông Nam Á, giới khoa học đã nhận diện được 400 vùng biển chết với diện tích 1.000-70.000 km2. Chăn nuôi không phải là thủ phạm duy nhất, song chắc chắn là một trong số các nguyên nhân nghiêm trọng nhất.

6. Ô nhiễm bầu không khí

Tất cả những ai sống gần trang trại chăn nuôi lợn đều biết rõ bầu không khí tại đó khó chịu thế nào. Ngoài các chất gây hiệu ứng nhà kính như metan hay cacbonic, đàn bò và lợn còn thải ra nhiều khí độc hại khác. Tại Mỹ, đàn bò và canh tác ngũ cốc làm thức ăn gia súc đảm trách 37% tổng số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng tại quốc gia này, trên 50% thuốc kháng sinh sản xuất tại Mỹ, 1/3 lượng nito và fosfo thải vào nguồn nước. Các trang trại nuôi bò tạo ra gần 2/3 lượng amoniac tổng hợp (nhân tố chính tạo mưa axit).

7. Đầu độc con người

Chất thải động vật chăn nuôi chữa nhiều mầm bệnh, trong đó có khuẩn salmonella, vi trùngE.Coli và nhiều vi trùng gây bệnh khác có thể thâm nhập vào cơ thể con người. Mỗi năm người ta trộn hàng tấn thuốc kháng sinh vào thức ăn gia súc – yếu tố làm xuất hiện nhiều loại vi trùng nhờn thuốc kháng sinh, tức gây khó khăn trong nỗ lực điều trị bệnh ở con người.

8. Góp phần làm cạn kiệt dự trữ dầu lửa thế giới

Ngành công nghiệp chăn nuôi ở các quốc gia phương Tây phát triển dựa vào dầu lửa. Vì thế năm 2008, khi giá nhiên liệu đột ngột nhảy vọt, tại 23 quốc gia đã xảy ra bạo động vì lý do tăng giá các mặt hàng thực phẩm. Theo một số nghiên cứu tại Mỹ, ngành chăn nuôi đã tiêu thụ 1/3 tổng sản lượng các nguồn nhiên liệu khai khoáng hàng năm của đất nước.
Theo Bee.net

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Thế giới động vật - Những điều thú vị bạn chưa biết


Thế giới động vật muôn màu với bao điều lý thú. Không ai có thể tự cho mình là hiểu khá rõ về mọi loài tồn tại trên hành tinh của chúng ta. Kết quả vô số cuộc nghiên cứu và khảo sát đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết thú vị về các loài động vật.
Bạn có biết sữa hà mã màu hồng
Bạn có biết sữa hà mã màu hồng? Ảnh: jungleanimals.com
Sữa của hà mã có màu hồng.
Ngay cả một lượng nhỏ rượu cồn đổ lên một con bọ cạp cũng sẽ làm nó phát điên và tự chích vào mình cho đến chết.
Cá sấu không thể thè lưỡi của nó.
Con vật cao tuổi nhất từng được biết đến trên thế giới là một con trai 405 tuổi, được phát hiện năm 2007.
Cá mập, giống như các loài cá khác, có cơ quan sinh sản của chúng nằm trong lồng ngực.
Mắt của loài bạch tuộc không có điểm mù. Tính trung bình, não của một con bạch tuộc có 300 triệu tế bào thần kinh. Khi bị căng thẳng cực điểm, một số con bạch tuộc thậm chí ăn cả những chiếc vòi của nó.
Bộ não của voi nặng khoảng 6.000g, trong khi bộ não của mèo chỉ nặng xấp xỉ 30g.
Mèo và chó có khả năng nghe siêu âm.
Mèo con ngủ nhiều để giải phóng hoóc mông tăng trưởng
Mèo con ngủ nhiều để giải phóng hoóc mông tăng trưởng. Ảnh: WordPress.
Một con mèo cọ cọ vào cơ thể người không chỉ để bày tỏ tình cảm mà còn để đánh dấu lãnh thổ bằng các tuyến phát xạ mùi hương quanh mặt của nó. Khu vực đuôi và các chân cũng mang mùi hương của mèo. Theo các nhà khoa học, mèo ngủ trung bình khoảng 2/3 số thời gian trong một ngày. Ngoài ra, một nguyên nhân khiến mèo con ngủ quá nhiều là do một hoóc môn tăng trưởng chỉ được giải phóng trong giấc ngủ.
Cừu có thể sống sót tới 2 tuần trong tình trạng bị tuyết chôn vùi.
Con lợn thông minh nhất thế giới thuộc sở hữu của một giáo viên dạy toán ở Madison, bang Wisconsin (Mỹ). Nó có khả năng ghi nhớ các bảng tính nhân đến 12.
Mèo có vị giác được đánh giá là yếu kém. Chúng chỉ có 473 nụ vị giác (những hạt lấm tấm nhỏ trên lưỡi để cảm nhận các hương vị khác nhau), trong khi con số này ở người đã 9.000.
Thống kê cho thấy, mỗi lần giao phối của rắn chuông kéo dài tới ... hơn 22 giờ.
Các nghiên cứu phát hiện, loài ruồi bị điếc.
Giai đoạn đạt cực khoái của một con lợn kéo dài trong 30 phút.
Trong tình trạng thiếu nước, chuột túi (kangaroo) có thể chống chịu lâu hơn so với lạc đà.
Chó có 5 ngón ở các chân trước
Chó có 5 ngón ở các chân trước. Ảnh: WordPress.
Chó có 4 ngón trên các chân sau và 5 ngón ở mỗi chân trước của chúng.
Tốc độ bay trung bình của ong mật là 24km/giờ. Chúng không bao giờ ngủ.
Gián có thể sống tới 9 ngày sau khi bị cắt lìa đầu.
Nếu bạn để một con cá vàng suốt thời gian dài trong bóng tối, nó cuối cùng sẽ chuyển sang màu trắng.
Kỷ lục bay đối với một con gà là 13 giây.
Loài vật gây tử vong nhiều nhất cho con người trên toàn thế giới là muỗi.
Bụng của kiến có hai dạ dày: một dạ dày chứa thức ăn cho bản thân và dạ dày thứ hai là kho chứa thực phẩm chia sẻ với những con kiến ​​khác. Theo các nhà khoa học, tuổi thị trung bình của của một con kiến ​​là 45 - 60 ngày.
Tiếng kêu quàng quạc của một con vịt không gây dội vang lại, và không ai biết tại sao lại như vậy.
Sao biển không có não. Chúng cũng nằm trong số ít những loài động vật có thể lộn ngược dạ dày của mình từ trong ra ngoài.
Mối hoạt động 24 giờ mỗi ngày và chúng không ngủ. Các nghiên cứu còn phát hiện, mối gặm nhấm gỗ nhanh gấp hai lần khi nghe nhạc rock nặng.
Hươu cao cổ con thường rơi từ độ cao 1,8 mét xuống khi chào đời
Hươu cao cổ con thường rơi từ độ cao 1,8 mét xuống khi chào đời. Ảnh: Getty Images.
Khi một con hươu cao cổ con ra đời, nó rơi xuống từ độ cao 1,8 mét và thông thường không bị tổn thương gì.
Một con hổ không chỉ có lớp lông vằn vện mà da của chúng cũng vằn vện.
Chim kền kền bay mà không cần vỗ cánh.
Gà tây có thể sinh sản mà không cần giao phối.
Chim cánh cụt là loài chim duy nhất có thể bơi lội, nhưng không bay. Người ta cũng không tìm thấy bất kỳ con chim cánh cụt nào ở Bắc Cực.
Iceland, Nam Cực và Greenland là những nơi duy nhất không có kiến sinh sống.
Nọc của rắn hổ mang chúa chứa độc tính cao đến mức chỉ cần một gram cũng có thể giết chết 150 người.
Nọc độc của một con bọ cạp nhỏ nguy hiểm hơn nhiều so với nọc độc của một con bọ cạp lớn.
Chiều dài dương vật của một con hàu có thể "khủng" đến mức gấp 20 lần kích thước cơ thể của nó!
Tim chuột đập 650 lần/phút.
Bọ chét có thể nhảy cao gấp 350 lần chiều dài cơ thể của nó. Nếu cũng sở hữu khả năng đó, con người sẽ có thể nhảy một lần hết chiều dài của một sân bóng đá.
Các dấu vân tay của gấu túi (koala) hầu như không mấy khác biệt với dấu vân tay của con người. Điều đó khiến chúng có thể gây nhầm lẫn tại một hiện trường vụ án.
Chim bồ câu cái không thể đẻ trứng nếu không nhìn thấy một con chim bồ câu khác
Chim bồ câu cái không thể đẻ trứng nếu không nhìn thấy một con chim bồ câu khác.
Ảnh: CTV
Chim bồ câu cái không thể đẻ trứng nếu có một mình. Để cho buồng trứng hoạt động, chim bồ câu cái phải nhìn thấy một con chim bồ câu khác.
Chuột túi (kangaroo) nhảy càng nhanh thì năng lượng nó tiêu thụ càng ít.
Voi nằm trong số ít loài động vật có vú không thể nhảy! Người ta cũng phát hiện rằng, voi vẫn đứng sau khi chết.
Các ve, một con ruồi được tìm thấy ở châu Phi, đã dành 17 năm cuộc sống của mình đang ngủ, và chỉ hai tuần là tỉnh táo trong thời gian đó bạn tình và sau đó chết.
Nhện có máu trong suốt.
Một số con sư tử giao phối hơn 50 lần một ngày.
Ốc sên thở bằng chân của chúng.
Chuột sinh sản nhanh tới mức chỉ trong 18 tháng, chỉ từ 2 con chuột bố, mẹ có thể cho ra đời tới 1 triệu người nối dõi.
Một loại ve sầu được tìm thấy ở châu Phi dành 17 năm trong cuộc đời của chúng để ngủ. Tổng cộng, chúng chỉ thức vài tuần trong các thời điểm giao phối và sau đó chết đi.
Nhím nổi trên nước.
Theo Vietnamnet