Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Những khu vườn xinh đẹp

Khu vườn đầy hoa cỏ và chim muông với nắng gió ngập tràn luôn cuốn hút những ai thích tìm đến không gian bình yên, thơ mộng. Mời bạn ngắm những bức ảnh đoạt giải cuộc thi Ảnh vườn quốc tế của năm. Ảnh trên Telegraph.





























                                                                                                                           Theo Ngôi sao

Đến chùa Bà Đanh ngắm cảnh... thanh vắng!

Chùa Bà Đanh là một danh thắng của đất Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, từ xa xưa vẫn gắn liền với câu thành ngữ nổi tiếng “vắng như chùa Bà Đanh”. Trên đường tìm đến ngôi chùa này, tôi cứ ngẫm nghĩ và tò mò mãi, không biết chùa Bà Đanh vắng vẻ, hiu quạnh thế nào mà dân gian lại lưu truyền như vậy?

“Vắng như chùa Bà Đanh”
 
Từ thành phố Phủ Lý rẽ vào quốc lộ 21, đi cầu Quế khoảng hơn 1km, chúng tôi thấy chùa Bà Đanh thấp thoáng hiện ra sau những bóng cây. Ngôi chùa u tịch nhìn ra con sông Đáy trôi chảy hiền hòa. Bến nước của chùa Bà Đanh nằm thoai thoải bên bờ sông, các bậc đá màu xám ngà ngà nổi bật giữa màu xanh của cây cỏ và dòng nước phẳng lặng như gương.  
Chùa Bà Đanh hiện ra thấp thoáng sau những bóng cây
 
Con đường nhỏ dẫn vào chùa Bà Đanh rợp bóng nhãn, vải
Đi qua chiếc cầu treo Cấm Sơn khá bề thế bắc qua sông Đáy, vòng lên một đoạn đường đê vắng vẻ, chúng tôi bắt gặp tấm biển bằng đá ghi “Di tích lịch sử văn hoá chùa Bà Đanh và núi Ngọc”.
 
Chùa Bà Đanh thuộc địa phận thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, cách núi Ngọc khoảng 100m. Từ núi Ngọc và từ chân đê, đi qua những đoạn đường nhỏ vắng lặng rợp bóng vải thiều, nhãn..., du khách sẽ thấy tam quan chùa Bà Đanh hướng về phía con sông Đáy thơ mộng.
 
Khoảng sân rộng được lát đá trồng nhiều loại cây như đa, hoàng lan, sứ… Những cây bưởi trĩu quả vỏ vàng tươi tắn, những cây táo ta sai quả gợi nên hình ảnh một cuộc sống thanh đạm mà trù phú. Đặc biệt, ngôi chùa trồng một cây đào tiên tán thấp có quả to, tròn và dẹt dẹt như bưởi nhưng vỏ nhẵn thín màu xanh bóng, chi chít đầy cành. 
Tam quan ngôi chùa
 
Một góc sân chùa u tịch
 
Chùa Bà Đanh gồm nhiều công trình như: nhà bái đường, nhà thượng điện, nhà rung đường, phủ thờ Mẫu, nhà tổ… Trên các cột và vì kèo chạm khắc tinh vi theo đề tài “Ngũ phúc”, “Tứ linh”, “Tùng mã”, “Mai điểu”…
 
Ngay gần đó là một bến nước lớn uy nghiêm nhưng vắng vẻ, trên các bậc lên xuống của bến nước, lá đa rụng đầy gợi không khí u tịch. Đứng trên bến nước, ngắm nhìn khung cảnh sơn thủy hữu tình, cái lặng yên nhắc cho trái tim mẫn cảm nhớ đến câu thơ của Trần Đăng Khoa: “Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”.
 
Ngôi chùa của những truyền thuyết dân gian
 
Chùa Bà Đanh có tên chữ là Bảo Sơn tự, ngoài thờ Phật còn thờ Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu và Tứ Pháp trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam (bao gồm Pháp Vân - mẹ Mây, Pháp Vũ - mẹ mưa, Pháp Lôi - mẹ Sấm, Pháp Điện - mẹ Chớp).
 
Lịch sử xây chùa Bà Đanh gắn liền với nhiều truyền thuyết lạ kỳ như tích về mẹ Phật Man Nương – được cho là nguồn gốc của Tứ Pháp – vốn lưu truyền rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. 
 
Một toà nhà trong tổng thể kiến trúc chùa Bà Đanh
 
Đến chùa Bà Đanh, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những tác phẩm chạm khắc gỗ tinh xảo
 
Bến nước chùa Bà Đanh nằm bên con sông Đáy hiền hoà lá đa rụng đầy
 
Con rồng đá nơi Tam quan
Tượng Bà Chúa Đanh được thờ trong chùa tương truyền là một người con gái được các Thần phái về để trông coi vùng này. Từ khi nhân dân trong vùng xây xong chùa thì sản xuất thuận lợi, không còn thiên tai mất mùa, đời sống trở nên đầm ấm, trù phú. Do đó, trong tâm thức dân gian Bà Chúa Đanh chính là vị thần mùa màng, phù hộ cho nông nghiệp.
 
Nhiều người kể rằng do chùa Bà Đanh quá linh thiêng nên khách thập phương cũng ít dám ghé qua vì sợ nếu thất lễ sẽ bị trừng phạt. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng chùa ở xa khu dân cư, cách trở núi sông, giao thông không thuận tiện nên ít người lui tới. Dù giải thích thế nào thì dường như nguồn gốc câu thành ngữ “Vắng như chùa Bà Đanh” vẫn là một bí ẩn!
Bài và ảnh: NGUYÊN ANH
(Báo Người Lao động)

Lúa cổ đã làm đòng

Bốn cây lúa gieo từ những "hạt thóc 3.000 năm" khai quật ở Thành Dền (Mê Linh, Hà Nội) đã làm đòng. Trong khi đó, những vỏ trấu của thóc cổ vẫn đang được giám định niên đại bằng phương pháp AMS ở Nhật Bản.
> Cấy hạt 'thóc 3.000 năm'/ Giới khoa học xôn xao vì hạt thóc 3.000 tuổi nảy mầm
Theo ông Lê Duy Hàm, Viện trưởng Di truyền nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), 4 cây lúa gieo từ những hạt thóc khai quật được ở khu di chỉ Thành Dền đã làm đòng được vài ngày. Đây là những hạt thóc thu được từ tầng văn hóa Đồng Đậu, cách nay 3.000 năm và được gieo vào ngày 5/5.
Bốn cây lúa phát triển từ những hạt thóc khai quật ở Thành Dền đã làm đòng. Ảnh: H.T.
Trong khi đó, 6 cây lúa cổ khác gieo một tuần sau đó và cả những cây lúa hiện đại của Việt Nam và Ấn Độ trồng đối chứng chưa thấy hiện tượng làm đòng.
Viện trưởng Hàm cho biết, nhiều khả năng những cây lúa này thuộc giống lúa ngắn ngày. Tuy nhiên, để xác định một giống lúa, các nhà khoa học sẽ phải chờ đợi kết quả xác định niên đại của hạt thóc bằng phương pháp AMS. Ngoài ra, các nhà khoa học sẽ tiếp tục chăm sóc quá trình trổ bông kết hạt để đánh giá qua hình thái.
Trong khi đó, theo tiến sĩ Lâm Thị Mỹ Dung, người trực tiếp khai quật tại khu di chỉ Thành Dền, việc xác định niên đại bằng phương pháp AMS ở Nhật Bản vẫn đang tiến hành. Theo bà, sớm nhất là cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 mới có kết quả.
Nguyễn Hưng
(VnExpress)

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Cá vàng khổng lồ



Cậu bé Nick Richards, 16 tuổi, trong một lần đi nghỉ cùng gia đình tại thành phố Poole, nước Anh đã câu được một con cá vàng "khổng lồ".

Con cá vàng có cân nặng 5 pound (gần 2,3 kg), dài 40 cm. Đây có thể được coi là con cá vàng lớn nhất từng được phát hiện ở Anh.
Nick Richards và chú cá vàng "khổng lồ" Billy - Ảnh: BNPS.co.uk
Nick kể: "Khi nghe nói ở vùng hồ này có rất nhiều cá chép cỡ bự, tôi đã muốn tận mắt trông thấy. Tôi đã mất 2 ngày bắc cần câu nhưng cũng chỉ bắt được vài con cá chép thông thường. Hôm sau đó, đột nhiên tôi thấy có một con cá lớn màu cam bơi ở đầu hồ đã cắn câu. Lúc đầu tôi tưởng là một loại cá chép béo, song, nhìn kĩ lại, thì ra đó là một con cá vàng giống như cá vàng cảnh người ta vẫn nuôi".

"Nó bơi rất khỏe. Có lẽ nhờ hồ có nguồn thức ăn phong phú nên nó đã phát triển rất tốt. Trước đó tôi có đùa rằng, nếu câu được một con cá lớn tôi sẽ đặt tên là Billy, thế nên con cá vàng này bây giờ sẽ sở hữu cái tên này" - Nick chia sẻ.

Những con cá vàng cảnh thường được nuôi trong các bể cá thông thường. Tuy nhiên theo Nick, con cá cậu bắt được có thể vẫn còn phát triển tiếp, thế nên cậu không muốn giữ con cá lại mà thả nó về hồ để nó được phát triển tự nhiên.
Theo VietNamNet

Cây hoa bóng nước giúp giảm đau

Nếu nhà bạn có cây hoa bóng nước thì không chỉ được ngắm vẻ đẹp của nó mà khi cần, bạn còn có thể dùng cây hoa này chữa bệnh.
Vị thuốc từ cây hoa bóng nước có tên gọi là phượng tiên hoa. Cần lưu ý phụ nữ có thai không được dùng đơn thuốc có vị từ cây hoa bóng nước.

Hoa bóng nước vị ngọt, tính ấm. Để giảm đau, dùng 12 - 20 gr hoa bóng nước sắc uống. Bài thuốc có tác dụng giảm đau, giảm độc, hoạt huyết, tiêu tích.


Cây hoa bóng nước.
 
Hạt bóng nước cũng được dùng làm thuốc với tên gọi cấp tính tử, được thu hái từ quả già vào mùa hạ rồi phơi khô, tách hạt. Hạt bóng nước vị nhạt, hơi đắng, không mùi, tính ấm, có tác dụng làm tan máu ứ, giải độc, thông kinh. Lấy hạt bóng nước tẩm mật phơi khô, tán bột, hoàn viên bằng hạt đỗ xanh, ngày uống 10 - 12 viên để trị chứng hay nghẹn (thường gặp ở người già).

Lá cây bóng nước giúp chữa chín mé, mụn nhọt, vết thương sưng tấy, đau nhức. Lấy lá cây bóng nước tươi rửa sạch, giã nát với ít muối đắp lên nơi tổn thương, rất công hiệu.

Khi bị đau lưng, lấy 10 gr cây bóng nước, 10 quả nho chua thái nhỏ, 15 gr nhân hạt đào. Tất cả phơi khô, đổ 400 ml nước vào nồi, cho các vị trên vào sắc kỹ lấy 100 ml, chia uống làm hai lần trong ngày. Dùng liền trong 5 - 7 ngày sẽ cho kết quả tốt.

BS. Nguyễn Thị Nhân -  Báo Đất Việt

Bí ẩn khúc gỗ trăm tuổi và giếng lạ ở Hòa Bình

Anh Bùi Văn Hồng, Phó giám đốc Trung tâm y tế huyện Lạc Sơn, Hòa Bình, kể: “Hôm cùng đoàn đi phun thuốc diệt muỗi chống sốt rét trong bản, tôi được tận mắt thấy một cái giếng lạ lắm. Giếng đang cạn nhưng khi người dân khiêng khúc gỗ thả xuống, nước lại phun lên trong vắt”. 

Con đường từ huyện Lạc Sơn lên xã Ngọc Lâu chênh vênh trên sườn những ngọn núi đá. Ngọc Lâu là xã sâu và cao nhất huyện, nằm sát khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn. Bản Khộp của người Mường nằm ở cuối xã, quanh mỏm ngọn đồi được bao bọc bởi rừng rú hoang rậm. Giữa bản, trên sườn mỏm đồi ấy có một giếng nước được xây cất đẹp đẽ, nước trong vắt, nhìn được tận đáy. Các cô gái giặt giũ bên giếng, các chàng trai hồn nhiên tắm rửa như tắm bên giếng nhà mình.
Cụ Bùi Văn Beo đứng cạnh "giếng thần" ở bản Khộp.

Giếng bí ẩn
Người nắm rõ bí ẩn về cái giếng mà đồng bào gọi là “giếng thần” này là cụ Bùi Văn Beo, 90 tuổi, sống trong ngôi nhà sàn cách giếng khoảng 200 m. Khi được hỏi về “giếng thần”, mắt cụ Beo chợt sáng rực, cụ hào hứng kể về cái giếng này với vẻ thành kính kỳ lạ: “Cái giếng này nằm trên mỏm đồi, ở vị trí cao nhất nhưng quanh năm suốt tháng, lúc nào nước cũng dồi dào, trong khi nơi khác ruộng khô nứt nẻ. Chuyện ấy đã lạ lắm rồi, nhưng lạ hơn nữa là cái khúc gỗ ở dưới đáy giếng, nó như cái khóa của máy bơm nước ấy. Lạ lắm, không thể hiểu nổi nên chúng tôi gọi nó là giếng thần…”.
Cụ Beo kể, năm 1955, khắp vùng Lạc Sơn gặp hạn hán. Bản Khộp tuy vẫn có nước từ giếng nhưng không đủ phục vụ trồng cấy, mà chỉ đủ ăn. Thanh niên bản Khộp hè nhau khơi rộng giếng, vét bùn đất dưới đáy, khiêng khúc gỗ chìm dưới lòng giếng lên với hy vọng nước sẽ chảy mạnh hơn. Do khúc gỗ nặng hàng tấn nên phải mấy chục người vừa bẩy, vừa kéo mới lôi lên được. Sáng hôm sau, mọi người ra múc nước thì giật mình thấy giếng cạn đến đáy, không có tia nước nào. Dân bản hoảng quá, liền khiêng khúc gỗ này thả xuống. Kỳ lạ thay, khi khúc gỗ được thả xuống, nước lại phụt lên trong vắt. 
Năm 1966, thanh niên trong bản lại khơi bùn đất và vần khúc gỗ ra khỏi đáy giếng cho nước chảy mạnh, nhằm có nước mở rộng diện tích cấy lúa, bởi họ nghĩ rằng vì khúc gỗ nằm trên tia nước nên đã làm nước chảy lên chậm hơn. Và một lần nữa, nước không chảy lên giọt nào cho đến khi trả khúc gỗ lại.
Lần gần đây nhất, được ông Bùi Trọng Tây, chủ tịch xã Ngọc Lâu, kể lại: “Năm 2002, với sự hỗ trợ của UNICEF trong chương trình nước sạch phục vụ nhân dân các xã vùng sâu, bản Khộp được xây một giếng nước hoành tráng. Địa điểm xây chỉ có thể là giếng cũ bởi không còn nguồn nước nào khác. Những người xây giếng đã tiến hành nạo vét, kéo khúc gỗ quẳng lăn lóc ra bên cạnh, bất chấp lời can gián từ phía dân bản. Sáng hôm sau, những người xây giếng kinh hãi khi thấy nước cạn sạch. Họ liền bơm nước vào giếng để thử, nhưng nước cứ dần ngấm xuống lòng đất. Không tìm được lý do, họ bỏ đi mất hút".
Lại một lần nữa, dân bản Khộp thả cây gỗ xuống trước sự chứng kiến của các cán bộ xã, trong đó có ông chủ tịch Bùi Trọng Tây. Kỳ lạ thay, hàng trăm tia nước li ti lại phụt lên quanh khúc gỗ, dân bản tha hồ dùng.
Khúc gỗ được cho là kỳ lạ nằm dưới đáy giếng đã mấy trăm năm nay.

Huyền thoại khúc gỗ
Cụ Bùi Văn Beo dẫn khách ra chiếc giếng nhà cụ ngay dưới chân nhà sàn. Nhìn xuống, thấy giếng sâu hoắm, tịnh không có giọt nước nào. Những cái giếng gần đó cũng vậy mặc dù được đào ở dưới sườn đồi, còn “giếng thần” của cả bản thì nằm ở sát mỏm đồi, tức là cao hơn rất nhiều. 

Đứng trên miệng "giếng thần", có thể nhìn rõ khúc gỗ đen lộ một phần lên khỏi đáy bùn. Khúc gỗ trông không có gì đặc biệt, nhưng theo cụ Beo, nó cứng như thép, dao bổ vào quằn lưỡi. Dưới làn nước trong vắt, có thể nhìn rõ hàng chục con cá, có con to khoảng 2 kg. Khi hỏi những người đang múc nước ở giếng rằng sao không bắt cá về ăn, ai cũng lắc đầu.
Về khúc gỗ, cũng theo cụ Beo, không ai biết nó có trong giếng từ khi nào, có trước hay sau giếng, nhưng tổ tiên mấy đời nhà cụ khẳng định nó có từ lâu lắm rồi, phải từ 300 đến 500 năm. Xưa kia, giếng được đắp đơn giản bằng một bờ đá, vết tích vẫn còn. Theo người dân bản Khộp, khúc gỗ trong giếng là của một cây nhội khổng lồ. Tán lá của nó rộng, che khuất cả bản. Ngày xưa trai tráng các bản mang dao cuốc lên đỉnh núi chặt ròng rã ba tháng trời, cây nhội mới chịu đổ. Gốc nó ở bản Điện, nhưng ngọn đổ xuống tận bản Trôi. Một cành cây gãy xuống, rơi vào bản Khộp, tạo thành mó nước. Khúc gỗ dưới giếng bây giờ chính là một phần nhỏ cành cây đó.
Theo những cụ già trong bản, gỗ lim, gỗ nghiến dù cứng và bền nhưng ngâm dưới nước hàng trăm năm cũng phải mục, trong khi khúc gỗ nhội này (vốn là loại gỗ không tốt lắm, mọc nhiều ở xã Ngọc Lâu và Ngọc Sơn) lại bền như sắt đá, nằm dưới bùn nước bao đời nay vẫn không thay hình đổi dạng. Theo chủ tịch xã Bùi Trọng Tây, vì có giếng này mà bản Khộp trồng được lúa nước quanh năm, trong khi các bản khác chỉ trồng ngô, sắn, hoa màu và trông vào nước trời, vì xã Ngọc Lâu không có con suối nào. Nguồn nước thừa từ giếng chảy ra cánh đồng đủ tưới tiêu cho 16 ha lúa nước.
Các giếng khác trong bản sâu hun hút mà vẫn cạn nước.
Tuy nhiên, chuyện khúc gỗ đó có huyền bí hay không chẳng quan trọng với 80 hộ dân bản Khộp. Họ chỉ cần đời này qua đời khác, nước cứ ngập giếng, trong leo lẻo. Ở nơi khác, giếng này hết nước thì còn giếng kia, chứ ở bản Khộp mà mất nước "giếng thần" thì không biết họ sẽ sống thế nào. Vì thế, già trẻ gái trai luôn nhắc nhở nhau giữ nguồn nước trong sạch, không một ai dám xâm phạm đến khúc gỗ và “giếng thần”. 

Và thế là đồng bào bản Khộp không một ai còn lên rừng chặt cây nữa, đặc biệt là cây nhội. Loài cây trong truyền thuyết “giếng thần” cứ mọc khắp các cánh rừng, khắp các ngả đồi. Chủ tịch xã Bùi Trọng Tây bảo: “Nhội mọc nhiều lắm, đường kính của nó cứ 2 đến 3 mét, cây nào cây nấy đều vài trăm năm tuổi…”.
Theo VTC

25 bức tượng lạ

Mời bạn ngắm 25 bức tượng kỳ quặc được dựng giữa thành phố ở khắp nơi trên thế giới, những bức tượng với hình dáng độc đáo khiến du khách một lần tới thăm sẽ không thể nào quên. Ảnh trên Lilo.